Showing posts with label Khái niệm các chỉ số. Show all posts
Showing posts with label Khái niệm các chỉ số. Show all posts

Vn-Index tăng hụt

Wednesday, November 19, 2008 |

Bứt lên 0,66% trong đợt một, nhưng Vn-Index không duy trì được đà tăng và mất 1,12% khi thị trường đóng cửa. Khối lượng giao dịch hiện cũng đang ở mức thấp nhất trong gần 2 tháng qua.

Phố Wall lên điểm đêm qua ít nhiều mang lại sự tự tin cho giới đầu tư trong phiên giao dịch sáng nay. Lượng cầu trong đợt một áp đảo so với cung đã giúp chỉ số chính của thị trường tăng điểm. Kết thúc đợt khớp lệnh mở cửa, Vn-Index có giá trị 342,93 điểm, đi lên 2,24 điểm, tương ứng 0,66%. Đã có 1,52 triệu chứng khoán được khớp, giá trị 37,6 tỷ đồng.

Dù có dấu hiệu hồi phục sau 2 phiên giảm, nhưng tính thanh khoản thấp cùng với đó là số điểm cộng không lớn gợi lên dấu hiệu bất ổn của thị trường trong những phút tiếp theo. Nỗi lo này càng có cơ sở khi thị trường quay đầu, xóa sạch nỗ lực của đợt một. Sắc đỏ dần lấn át sắc xanh trên bảng điện tử, song song với đó số điểm trừ của Vn-Index càng lúc càng dày thêm, có thời điểm lên tới gần 1%.

Những lần Vn-Index tăng
Những lần Vn-Index tăng "hụt" với các nhà đầu tư đôi khi còn tệ hại hơn nhiều so với những giảm điểm. Ảnh: Hoàng Hà.

Ngoại trừ REE, phần lớn các cổ phiếu hàng đầu đầu đi lên trong đợt một và đầu đợt hai. Các blue-chip như SSI, STB, PVD, HPG khởi sắc đã làm đầu tầu kéo chỉ số chính của thị trường tăng điểm. Tuy nhiên, cũng chính sự sa sút của nhóm này là nguyên nhân đẩy hàn thử biểu trượt xuống dưới giá tham chiếu trong khoảng thời gian còn lại của đợt khớp lệnh liên tục.

Với mức dao động lớn theo chiều hướng giảm của chứng khoán, nhiều giao dịch thực hiện trong đợt một đã lỗ ngay trong phiên. Chẳng hạn với các cổ phiếu như FPT, BMP hay PNC, mức lỗ mà nhà đầu tư phải gánh chịu nếu mua cổ phiếu từ đợt khớp lệnh định kỳ mở cửa là từ 4% tới 7%, cao hơn cả biên độ dao động tối đa tại HOSE.

Theo một nhà đầu tư tại Công ty Chứng khoán SME, trong giao dịch chứng khoán, thiệt hại do những phiên đảo chiều hụt là rất đáng sợ. Đôi khi còn lớn hơn so với việc mua cổ phiếu trong những phiên thị trường giảm mạnh ngay từ đầu. Lý do là những bẫy tăng giá ngay trong phiên thường khiến mức lỗ của nhà đầu tư lên cao hơn cả biên độ dao động cho phép. Hơn nữa, những lần đảo chiều thất bại thường được nối dài bởi một chuỗi ngày giảm liên tiếp khiến nhà đầu tư lỗ nặng khi cổ phiếu về tài khoản.

Kết thúc đợt hai, hàn thử biểu chốt tại 338,42 điểm, bị trừ 2,28 điểm, ứng với 0,66%. Tổng số cổ phiếu trao tay sau đợt khớp lệnh liên tục là 7,12 triệu, ứng với khối lượng 188,28 tỷ đồng.

Đợt khớp lệnh định kỳ cuối cùng trong ngày chứng kiến nhà đầu tư đẩy mạnh lượng cung cho thị trường. Từ đó, kéo Vn-Index xuống chỉ còn 336,89 điểm, thấp hơn tham chiếu 3,8 điểm, ứng với 1,11%.

Khối lượng thực hiện giao dịch báo giá toàn sàn đạt 9,09 triệu chứng khoán, giá trị 236,74 tỷ đồng. Qua giao dịch thỏa thuận đã có 905 nghìn chứng khoán được khớp, giá trị 50,09 tỷ đồng. Như vậy, tính thanh khoản của thị trường đã tụt xuống mức thấp nhất kể từ 30/9.

Theo thống kê tại HOSE, đã có 54 mã tăng, 85 mã giảm, và 29 mã đứng giá.

Nhà đầu tư tại sàn Hà Nội cũng có một ngày giao dịch ảm đạm khi chỉ số HaSTC-Index mất 0,48 điểm, ứng với 0,43%, hiện chỉ còn 110,9 điểm. Tổng lượng sang tên đạt 6,49 triệu cổ phiếu, giá trị 181,1 tỷ đồng.

Tìm hiểu về chỉ số Nasdaq

Tuesday, November 4, 2008 |

Xin cho tôi biết một số thông tin về chỉ số Nasdaq của thị trường Mỹ. (Nguyễn Ngọc Quỳnh- xukxikx@yahoo.com.ca)

Trả lời:

Chỉ số Nadasq được gọi là chỉ số tổng hợp Nasdaq (the Nasdaq composite), được xây dựng trên giá cổ phiếu của toàn bộ các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nasdaq.

Nasdaq được thành lập năm 1971 bởi Hiệp hội những người buôn bán chứng khoán Quốc gia (NASD) và hiện đang được điểu hành bởi Nasdaq Stock Market, Inc. Nasdaq là sàn giao dịch chứng khoán điện tử lớn nhất nước Mỹ, với khoảng 3.200 công ty niêm yết và số lượng cổ phiếu giao dịch bình quân nhiều hơn bất kỳ sàn giao dịch khác ở Mỹ, kể cả NYSE. Có giá trị vốn hoá thị trường đứng thứ 3 thế giới (sau NYSE và Tokyo stock Exchange). Điểm khác biệt quan trọng giữa Nasdaq với các sàn giao dịch chứng khoán lớn khác là ở chỗ nó là một sàn giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC). Chỉ số Nasdaq được theo dõi nhiều nhất đối với các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ.

Bên cạnh chỉ số tổng hợp Nasdaq còn có chỉ số Nasdasq 100 và Nasdasq Financial 100 cũng là những chỉ số chứng khoán rất quan trọng. Một số mốc chính với chỉ số tổng hợp Nasdaq:

- 17/7/1995: Lần đầu tiên chỉ số tổng hợp Nasdaq đóng cửa ở mức giá trên 1.000 điểm.

-10/3/2005: Chỉ số này đạt mức giao dịch cao kỉ lục 5.132,52 điểm.

-10/10/2002: Chỉ số tổng hợp Nasdaq tụt xuống mức thấp nhất 1.108,49 điểm.

Bên cạnh Nasdaq Composite thì Nasdaq 100 và Nasdaq Financial 100 cũng là những chỉ số chứng khoán rất quan trọng. Nasdaq 100 là chỉ số chứng khoán của 100 công ty phi tài chính lớn nhất được niêm yết trên Nasdaq, cả công ty trong nước và quốc tế, còn Nasdaq Financial 100 là của các công ty tài chính.

Để được lọt vào top 100 công ty trong chỉ số Nasdaq 100, một công ty phải đạt được các số tiêu chí sau, bao gồm:

- Được niêm yết độc quyền trên Nasdaq.

- Đã niêm yết được ít nhất 2 năm( hoặc 1 năm nếu thoả mãn một số tiêu chuẩn về vốn hoá thị trường).

- Khối lượng giao dịch bình quân ngày tối thiểu là 200,000 cổ phiếu.

- Lưu hành báo cáo hàng quí và hàng năm.

- Không đứng trước nguy cơ phá sản.

Ngoài ra, nếu công ty có nhiều loại cổ phiếu thì nó chỉ được phép có 1 cổ phiếu với giá trị vốn hoá thị trường lớn nhất được tham gia vào chỉ số Nasdaq 100. Danh mục công ty nằm trong Nasdaq 100 được tái cơ cấu lại theo chu kì 1 năm hoặc sau khi xảy ra các vụ chia tách, sáp nhập các công ty trong top 100.

Trong danh sách của Nasdaq 100 được công bố 1/2/2007 có nhiều cái tên khá quen thuộc trong lĩnh vực công nghệ như: Adobe Systems Incorporated (ADBE), Amazon.com, Inc. (AMZN), Apple Inc. (AAPL), Cisco Systems, Inc. (CSCO), Dell Inc. (DELL), eBay Inc. (EBAY)…

(Câu trả lời do Công ty Cổ phần giải pháp Công nghệ và Thông tin Tài chính Sirifin cung cấp)

Như chúng ta đã biết phương pháp định giá cổ phần theo lý thuyết đó là sử dụng nguyên tắc chiết khấu dòng tiền, ở đây là chiết khấu cổ tức. Giá trị của một cổ phần được định nghĩa là:

P = ∑Cổ tức / (1+r)^n

Đây là công thức căn bản trong việc định giá cổ phần.
Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng sử dụng công thức trên. Một số trường hợp chúng ta có thể sử dụng công thức đơn giản hơn đó là dựa vào P/E để tính giá cổ phần. Chẳng hạn nếu P/E của công ty ước tính khoảng 10 thì với EPS = 5, điều đó có nghĩa rằng giá cổ phần công ty sẽ là 50.
Hoặc để nhận định về tốc độ tăng trưởng của công ty, người ta có thể sử dụng thêm công thức:

P = EPS/r + PVGO với PVGO là hiện giá cơ hội tăng trưởng (giá trị đem lại từ những cơ hội đầu tư hiện tại của công ty)

Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây, chúng ta sẽ sử dụng các công thức định giá này trong trường hợp nào, khi nào thì nên sử dụng công thức này mà không sử dụng công thức kia??? Và theo bạn ở Việt Nam người ta dùng công thức nào ?
Mong các bạn đóng góp ý kiến !!! (Tác giả: Nam)

Thảo luận

O Việt Nam theo mình nghĩ công thức của bạn đưa ra khó có khả năng áp dụng được. Vì sao, hãy trả lời các câu hỏi:

1. Bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp ở Việt Nam có vận dụng dividend policy cho shareholders? Trong trường hợp doanh nghiệp không trả cổ tức thì sao? Ở trên thế giới Microsoft không trả dividend nhưng vẫn giá cổ phiếu lại rất cao vì nhà đầu tư họ không kỳ vọng vào dividend mà họ quan tâm đến capital gain (chênh lệch giá cổ phiếu)

2. Công thức này liệu có thực tế không? r theo mình nghĩ đó là cost of equity, làm sao tính được r ở một doanh nghiệp ở Việt Nam. Nếu muốn tính được r, các bạn phải có thông tin về: risk free rate, return on market, return on stock, và beta. Tính beta trong một thị trường chứng khoán chưa phát triển như Việt Nam quả là không khả thi.

3. Bạn tính beta bằng cách nào? Nếu dùng phương pháp regression (hồi quy), xin thưa rằng không có dữ liệu quá khứ bởi vì chẳng thể nào tìm được giá cổ phiếu hàng ngày của 1 công ty và daily VNI-index, có website nào để download giá lịch sử không??? Nếu bạn dùng phương pháp bottom-up để tính Beta, mình nghĩ là không ổn bởi vì bạn không có thông tin về các công ty đối thủ cạnh tranh và tính avarage unleverage beta.

4. Làm sao xác định được tốc độ tăng trưởng của cổ tức doanh nghiệp (g). Hình như mô hình mà bạn đưa ra không có g. Theo mình thì g = ROE*(1-payout ratio). Mà payout ratio = DPS/EPS. Thật là khó khi tính g ở các công ty ở Việt Nam.
5. Giả sử như bạn tính được g và r, theo bạn thì tốc độ tăng trưởng của dividend sẽ kéo dài trong bao lâu. Thật là khó phân tích trong môi trường thiếu thông tin như ở Việt Nam. Bạn là nhà phân tích, bạn có biết chiến lược kinh doanh của công ty hay không? Công ty có bao nhiêu projects? Project sinh lợi ra sao, đóng góp như thế nào vào tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp? Project kéo dài bao lâu....

5. Doanh nghiệp đang ở điểm nào trong chu kỳ kinh doanh (đang hình thành, đang tăng trưởng, hay suy thóai)...

6. Thông tin trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam có đáng tin cậy không?Đó là một vấn đề về Information asymmetry dẫn đến Agency problem (các nhà quản lý nắm nhiều thông tin hơn là các cổ đông), cho nên sự phân tích của cổ đông thường phiến diện.

Tóm lai, mô hình mà bạn đưa ra chỉ là một mô hình rất căn bản, hình như đó là Gordan Growth Model, khó có thể đưa ra thông tin đáng tin cậy về giá cổ phiếu ở Việt Nam. Ở các nước phát triển, các nhà phân tích thường dùng nhiều mô hình kết hợp chứ không đơn thuần chỉ dùng 1 mô hình, họ thường phân tích về industry, về risk, về accounting, rất nhiều thứ. Những mô hình thông dụng mà các nhà phân tích ở Anh, Mỹ, Úc thường dùng mà mình đã từng được học và thử nghiệm là:

1. DDM (2-stage, 3-stage): Phân tích chiết khấu cổ tức

2. FCFE (Free cash flow to equity)

3. Relative valuation (P/E): so sánh chỉ số (P/E) với các công ty trên thị trường. Sau đó dùng hàm hồi quy (regression) để phân tích

Thật ra mục đích của việc định giá cổ phằn là để xác định miss-priced security (xem giá cổ phiếu thấp hơn hay cao hơn số mà bạn tính, từ đó đưa ra quyết định mua, giữ, hay bán). Nếu bạn nào thích hãy cho mình email, mình sẽ gửi một bài viết của mình về một công ty ở nước ngoài mà mình đã từng phân tích (đây là một công ty thuộc oil and gas industry).

Các hệ số tài chính

Wednesday, September 17, 2008 |

Trên thực tế người ta thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh lợi của doanh nghiệp: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng; hệ số thu nhập trên vốn cổ phần; và hệ số thu nhập trên đầu tư.

Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

Hệ số tổng lợi nhuận= (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh số bán

Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.

Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu

Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó.

Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.

Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.

ROE= Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

ROI= (Thu nhập ròng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản).

Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.

Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:

P/E = PM / EPS

Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.

P/E là một chỉ số được các nhà đầu tư sử dụng rất phổ biến trong phân tích tài chính. Tất nhiên tỷ lệ này cũng có những hạn chế nhất định (chúng ta sẽ đề cập trong phần sau) nhưng nó có ưu điểm là dễ tính và dễ hiểu. Nếu bạn muốn biết thị trường sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đôla lợi nhuận của một công ty, chúng ta hãy xem xét P/E.

P/E là một tỷ lệ phần trăm giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập trên một cổ phhiếu. Nếu giá một cổ phiếu cuả IBM là 60 đôla và thu nhập của mỗi cổ phiếu là 3 đôla thì tỷ lệ P/E sẽ là 20 (60/3). điều này có nghĩa là nhà đầu tư sẵn sàng trả 20 đôla cho mỗi đôla lợi nhuận của công ty. Nếu P/E giảm xuống còn18 có nghĩa là nhà đầu tư chỉ trả 18 đôla cho mỗi đôla lợi nhuận.


P/E truyền thống- tức là tỷ lệ P/E mà bạn vẫn thấy hàng ngày trên các tạp chí chứng khoán- còn gọi là P/E hiện tại. Để tính chỉ số này người ta lấy giá cổ phiếu chia cho lợi tức cổ phiếu của 12 tháng gần nhất.

Bên cạnh đó các nhà đầu tư còn sử dụng tỷ lệ P/E tương lai bằng cách lấy giá cổ phiếu chia cho lợi tức cổ phiếu của năm sau do Phố Wall ước tính.

Chỉ số nào tốt hơn? Tỷ lệ P/E truyền thống có ưu điểm là nó phản ánh tình hình thực tế của doanh nghiệp vì mẫu số ( E) là con số thực tế đã được kiểm toán và báo cáo cho Uỷ ban chứng khoán và hối đoái. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là lợi nhuận này chắc chắn sẽ thay đổi trong tương lai. Do đó, bằng cách ước tính lợi nhuận trong tương lai, chỉ số P/E tương lai dự đoán cả mức tăng trưởng của doanh nghiệp. Mặc dù con số ước tính này có thể không chính xác, ít nhất nó cũng giúp các nhà đầu tư có cơ sở để tham khảo ra quyết định đầu tư.

Giả sử bạn có cổ phiếu của 2 công ty hoạt động trong cùng một ngành - ví dụ Exxon và Texaco - cùng có tỷ lệ P/E là 20. Giá cổ phiếu của Exon là 60 đôla và thu nhập là 3 đôla trong khi giá cổ phiếu của Texaco là 80 đôla và thu nhập là 4 đôla. Dường như 2 quyết định đầu tư này là như nhau nếu bạn không xem xét tới tỷ lệ P/E tương lai.

Phố Wall ước tính thu nhập của Exon sẽ tăng tới 3,75 đôla một cổ phiếu (tức 25%) còn cổ phiếu của Texaco chỉ tăng tới 4,25 đôla( 6%). Trong trường hợp đó chỉ số P/E tương lai của Exon giảm xuống còn 16 trong khi đó chỉ số P/E tương lai của Texaco là 18,8. Nếu dự đoán này là đúng thì hiển nhiên mua cổ phiếu của Exxon sẽ có lợi hơn.
Nhược điểm lớn nhất của cả 2 chỉ số này là đôi khi các công ty che giấu thu nhập của họ bằng cách công bố lãi nhiều hơn thực tế. Một kế toán viên có thể đưa ra những con số khống và khai tăng tỷ lệ tăng trưởng thu nhập lên một vài điểm

Một thực tế nữa là thu nhập ước tính có thể thay đổi tuỳ theo tình hình phát triển của công ty và tuỳ theo mỗi nhà phân tích Phố Wall. Vì vậy, mặc dù được các nhà đầu tư sử dụng phổ biến nhưng tỷ lệ P/E cũng chỉ là một chỉ số để tham khảo mà thôi.

Làm thế nào nhà đầu tư đánh giá được khả năng sinh lợi của đồng vốn sở hữu cổ đông để có thể thấy được một đồng vốn tạo khả năng bao nhiêu đồng lời và tỷ lệ sinh lời của nó để quyết định đầu tư công ty X này mà không đầu tư vào công ty Y khác có cùng ngành nghề?

Chúng ta đã tìm hiểu chỉ số EPS, có liên quan mật thiết đến việc xác định khả năng sinh lời của công ty trên một cổ phần mà nhà đầu tư mua vào. Chỉ số này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng sinh lời từ toàn bộ vốn sở hữu cổ đông mà vốn này ngoài vốn góp cổ đông dưới dạng cổ phần còn bao gồm có thể là lợi nhuận để lại các quỹ phát triển kinh doanh, chênh lệch phát hành... Phản ánh khá chính xác các khả năng đó chính là ROE (return on equity) trị giá biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm (%).

Trị giá ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng (net income) theo niên độ kế toán (từ 1 tháng 1 đến 31 tháng 12) sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi nhận cổ tức nhưng trước khi chi trả cổ tức cho cổ phần thường chia cho toàn bộ vốn sở hữu chủ, tức tài sản ròng (xin xem bài chỉ số NAV là gì?) vào lúc đầu niên độ kế toán.

Chỉ số này là thước đo chính xác nhất để bạn đánh giá một đồng vốn của cổ đông bỏ ra và tích luỹ được (có thể lợi nhuận để lại) tạo ra bao nhiêu đồng lời. Từ đó nhà đầu tư có cơ sở tham khảo khi quyết định mua công ty X hay công ty Y có cùng ngành nghề với nhau.

Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, điều này có nghĩa công ty cân đối một cách hài hoà giữa đồng vốn cổ đông với đồng vốn vay (vì nếu vay nhiều thì phải trả lãi vay làm giảm lợi nhuận) để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.

Tỷ lệ này giúp cho nhà đầu tư đánh giá công ty ở góc độ như sau:

* Khi công ty chỉ đạt tỷ lệ ROE tương đương với lãi vay ngân hàng (khoảng 10%/năm) thì ở mức độ đánh giá tương đối, bạn hãy xem lại khả năng sinh lời của công ty này vì nếu công ty nào cũng chỉ sinh lời ở mức này thì sẽ không có công ty nào đi vay ngân hàng vì lợi nhuận từ vốn vay chỉ đủ để trả lãi vay ngân hàng. Tất nhiên ở đây chỉ đặt trường hợp công ty chưa vay ngân hàng.* Khi công ty đạt tỷ lệ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì bạn nên tìm hiểu xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty có tiềm năng tăng tỷ lệ này hay không trong tương lai. Nếu còn mở rộng được thị phần thì cần thêm vốn, vốn này có thể vay và công ty vẫn có thể có lời sau khi trả lãi cho khoảng vốn vay này.

Tuy nhiên, vay vốn ngoài việc trả lãi còn phải trả gốc cho nên ảnh hưởng rất nhiều đến yếu tố thanh khoản công ty, vì vậy cân đối vốn vay và vốn cổ đông cũng là bài toán quản lý của công ty.

* Ngoài ra, tỷ lệ này cũng giúp cho nhà đầu tư đánh giá các công ty trong cùng một ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư một trong số các công ty có cùng ngành nghề đó, phương thức lựa chọn tất nhiên vẫn là tỷ lệ ROE cao, vì như đã nói ở trên thì ROE của công ty càng cao thì có khả năng tăng lợi thế cạnh tranh càng mạnh, khi đó lợi thế cạnh tranh của các công ty khác sẽ bị giảm xuống.

Chỉ số Current Yield (Tỷ suất thu nhập trên thời giá cổ phần) là một công cụ giúp nhà đầu tư tự quyết định cho mình nên chọn đầu tư vào doanh nghiệp nào?...

Chỉ số Current Yield (Hay người ta thường gọi là Yield) là gì? Đây là chỉ số dùng để phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào nó là tỷ lệ cổ tức mà cổ đông nhận được trên giá chứng khoán mà cổ đông đó mua vào

- Phân tích mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty và giá nhà đầu tư mua cổ phiếu, chúng ta thấy có hai trường hợp sau đây

+ Trường hợp 1: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán xong rồi chờ chứng khoán lên giá để hưởng chênh lệch gọi là lãi vốn (capital gain) thì nhà đầu tư sẽ không quan tâm gì nhiều đến Yield. Lúc này Yield không có ý nghĩ gì thực sự quan trọng với họ so với các chỉ số P/E, EPS như đã đề cập trong bài trước

Trong trường hợp này, các nhà đầu tư đã phân tích mối quan hệ giữa Yield và EPS. Nếu Yield thấp, ép cao thì họ hy vọng công ty sử dụng phần lợi nhuận để tái đầu tư tăng lợi nhuận cho các năm tiếp theo giúp P/E giảm. Lúc này họ dễ dàng bán lại cổ phiếu với P/E cao để có lãi vốn

+ Trường hợp 2: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán để đầu tư lâu dài (như để mua làm của) thì tất nhiên họ sẽ quan tâm tới việc thu lợi nhuận hàng năm, hàng quý. Lúc này chỉ có cổ tức họ thu được. Khi đó Yield là mục tiêu chính để họ quan tâm.

Khi công ty chia cổ tức cao có nghĩ là không cần sử dụng lợi nhuận để lại có thể do: công ty sử dụng vốn vay công ty chưa có kế hoạch mở rộng sản xuất hoặc thị phần công ty đã bão hoà. Khi đó lợi nhuận không được dự đoán tăng nhiều trong năm tới đồng nghĩa P/E không giảm nhiều dẫn đến việc các nhà đầu tư không hy vọng sẽ tăng giá cổ phiếu của mình trong tương lai.

Thông thường lợi nhuận thu được từ cổ tức công ty trả thấp hơn nhiều so với lợi nhuận thu được từ việc bán cổ phiếu. Ví dụ như công ty Cơ điện lạnh (REE) từ ngày cổ phần hoá đến nay cổ tức nhà đầu tư nhận được chỉ là 283% trên mệnh giá cổ phần (một trăm ngàn đồng) trong khí đó tăng giá cổ phiếu là 1350% có nghĩa tăng 4,7 lần. Do vậy đối với các nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường thì điều quan tâm duy nhất của họ chỉ là lãi vốn có nghĩa trong Đại hội c ổ đông hàng năm để quyết định chia cổ tức thì họ thường bỏ phiếu không chia cổ tức nhiều.

Nói tóm lại khi đầu tư bạn nên tìm hiểu và đánh giá hết các loại chỉ số phân tích để có một cái nhìn tổng thể hơn mối quan hệ của các chỉ số này đẻ ra quyết định đầu tư cho chính xác. Kỳ sau chúng tôi sẽ giúp bạn đi sâu phân tích thêm các mối quan hệ giữa tài sản công ty và tài sản cổ đông để bạn không nhầm lẫn giữa cái bề thế bên ngoài và cái bản chất tài sản thật bên trong của công ty.

Chỉ số NAV có liên quan mật thiết đến việc xác định giá trị tài sản công ty và tài sản cổ đông. Từ đó nhà đầu tư sẽ không bị nhầm lẫn giữa cái bề thế bên ngoài và cái bản chất taìi sản thật bên trong của công ty.

Thông thường nguồn vốn công ty cấu thành chính bởi nguồn vốn sở hữu của cổ đông và nguồn vốn vay. Các nguồn vốn nay tạo cho công ty các tài sản như: máy móc thiết bị, nhà xưởng... và các tài sản lưu động khácphục vụ cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Do đó có lúc công ty có vốn cổ đông (hay gọi là vốn điều lệ) thấp như tài sản thể hiện bên ngoài lớn thì chưa chắc đó là tài sản hình thành từ vốn cổ đông đóng góp mà có thể một phần từ vốn vay. Nguồn vốn sở hữu của cổ đông được gọi là Giá trị tài sản thuần của công ty, giá trị này chính là chính là chỉ số NAV (Net Asset Value).

Giá trị tài sản thuần NAV bao gồm: Vốn cổ đông (vốn điều lệ) vốn hình thành từ lợi nhuận để lại. Vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá (Share Premlum) lỗ trong hoạt động kinh doanh và các quỹ dự trữ phát triển dự phòng.

Người ta thường sử dụng chỉ số NAV/Share (giá trị thuần của mỗi cổ phiếu phát hành) để đánh giá trị cổ phiếu trên sổ sách và giá cổ phiếu mua vào chỉ số này được tính bằng cách lấy tổng giá trị vốn sở hữu (tổng tài sản trừ cho bất cứ tài sản vô hình nào trừ tất cả nợ và chứng khoán trái phiếu có quyền đòi ưu tiên) chia cho tổng số cổ phần phát hành.

Chỉ số này giúp cho nhà đầu tư dánh giá công ty khi đầu tư ở một số khía cạnh như sau:

- Giả sử công ty có phần mệnh giá là 100.000 đồng mà NAV là 120.000 chẳng hạn thì có nghĩa là công ty đã tích luỹ vốn để sản xuất có thể từ nguồn lợi nhuận để lại phát hành chênh lệch... Như vậy nhà đầu tư mua cổ phần với giá 120.000 đồng thì họ vẫn mua đúng với giá trị thật trên sổ sách của nó.

- Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng lợi nhuận công ty đạt được cao thì nhà đầu tư cũng có thể mua cổ phiếu với giá cao hơn NAV để mong lợi nhuận gia tăng khi đó sẽ có chia cổ tức có tích luỹ và NAV sẽ tiếp tục tăng nữa trong thời gian tới.

- Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng công ty vẫn đang lỗ có nghĩa sẽ tiếp tục giảm NAV thì bạn có quyết mua với 120.000 đồng hay cao hơn không. Đây là quyết định khó khăn và rủi ro nhất nó phụ thuộc nhiều vào việc đánh giá phân tích của nhà đầu tư về công ty ở nhiều khía cạnh thông tin chính xác về công ty tương lai để quyết định. ở đây chỉ có một nguyên tắc đơn giản mà nhà đầu tư chấp nhận đầu tư đó là "lợi nhuận cao thì rủi ro cao".

Nói tóm lại NAV là thước đo bảo thủ nhất để nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của công ty theo giá trị thực của công ty. Trong thực tế điều chú trọng nhất vẫn là vấn đề "lợi nhuận" luôn được đặt lên hàng đầu vì đó là cơ sở chính để đánh giá khả năng sinh lời của việc sử dụng đồng vốn của công ty.