Showing posts with label Phân tích chứng khoán. Show all posts
Showing posts with label Phân tích chứng khoán. Show all posts

Nên "cắt lỗ" khi cổ phiếu giảm 5 - 10%

Sunday, October 5, 2008 |

“Khi tham gia lướt sóng các nhà đầu tư nên “cắt lỗ” khi giá cổ phiếu giảm 5 - 10% và bán ra khi đạt mức lợi nhuận khoảng 30%. Nếu là nhà đầu tư tôi sẽ không tham gia thị trường vào lúc này”.


Đó lời lời khuyên của ông Ken Tai Chee Ming, 1 trong 7 chuyên gia phân tích kỹ thuật đạt chuẩn CMT tại Singapore tại hội hội thảo “Lướt sóng - Cơ hội và rủi ro” vừa được tổ chức tại TPHCM với sự tham dự của gần 300 nhà đầu tư.

Thị trường thế giới có xu hướng đi xuống

Ông Ken Tai đã dẫn lại các số liệu thống kê từ các cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ và dự đoán rằng khủng hoảng tài chính có nhiều khả năng còn kéo dài.


Đầu tiên là đại suy thoái 1930, thị trường chứng khoán Mỹ đã giảm tới 87,5%, khủng hoảng tài chính năm 1966 có mức suy giảm thấp nhất là 22,3%. Trung bình 40,9% cho mỗi đợt khủng hoảng với thời gian dài nhất là 931 ngày cho cuộc đại suy thoái 1930 và ngắn nhất là 60 ngày vào năm 1966.


“Xu hướng của thị trường chứng khoán Mỹ còn đi xuống và sẽ kéo dài cho đến tháng 10/2009”, ông Ken Tai nhận định.


Nhìn về thị trường chứng khoán Việt Nam, ông Ken Tai cho rằng: “Trong quý 3/2008, chỉ số Vn-Index đã tăng trưởng mạnh hơn so với thị trường chứng khoán châu Á và thế giới. Trong khi chỉ số chứng khoán châu Á giảm thì chứng khoán Việt Nam lại phục hồi và tăng”.


Dẫn lại các số liệu từ hãng tin Bloomberg, thị trường châu Á và Thái Bình Dương có chỉ số PE dao động từ 7,64 đến 20,37, chỉ số PB từ 1,22 đến 2,83. Còn ở Việt Nam, chỉ số PE trung bình của các công ty niêm yết trên sàn tính đến ngày 29/9 là 20,21, chỉ số PB là 3.56 gần sát với chỉ số PE và PB của Trung Quốc.


Lợi nhuận mang lại khi đầu tư vào chứng khoán trong giai đoạn này là 4,95 %/năm. Ông Ken Tai cho rằng lợi nhuận mang lại khi đầu tư không đủ bù cho mức lạm phát hiện nay và nhất là khi so sánh với lãi suất tiền gửi ngân hàng hiện nay đang ở mức cao.


Chọn cổ phiếu nào để đầu tư?


Kinh tế Mỹ và Châu Âu đang tăng trưởng chậm lại như hiện nay sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu nhập khẩu các hàng hóa ở các nước đó trong các mặc hàng xăng dầu, thực phẩm, may mặc… Do đó, theo ông Ken Tai cổ phiếu của các công ty chủ yếu dựa vào thị trường nội địa là cổ phiếu tốt để đầu tư như các công ty dược, sữa...
Ngoài ra, công ty đó còn phải có bảng cân đối kế toán mạnh nghĩa là sử dụng ít nợ vay, đòn bẩy tài chính thấp.
Các nhà đầu tư cũng chỉ nên nắm giữ 3 - 5 cổ phiếu trong danh mục, nếu nắm chỉ 2 cổ phiếu thì sẽ hơi rủi ro khi cả hai cổ phiếu đều giảm, nếu nắm trên 5 cổ phiếu thì sẽ không theo dõi kịp những biến động của thị trường để đưa ra quyết định chính xác.


Khi lướt sóng, các nhà đầu tư nên “cắt lỗ” khi giá cổ phiếu giảm 5 - 10% và bán ra khi đạt mức lợi nhuận khoảng 30%. Nếu thị trường đang trong xu hướng đi xuống thì những lúc thị trường đột nhiên tăng trở lại thì đó là thời điểm tốt nhất để cắt lỗ.


Về rủi ro của việc lướt sóng trong thời điểm này ông Ken Tai cho rằng sau khi phục hồi 50% thị trường điều chỉnh đi xuống tương đối sâu và còn có khả năng đi xuống, mua cổ phiếu trong thời điểm thị trường đang đi xuống tương đối gặp rủi ro cao.


“Nếu là nhà đầu tư tôi sẽ không tham gia thị trường vào lúc này”, ông Ken Tai cho biết quan điểm đầu tư của mình.
Tuy nhiên đánh giá về cơ hội của việc lướt sóng thì ông Ken Tai nhận định: “Trong xu hướng đi xuống, thị trường sẽ có những đợt phục hồi ngắn hạn, những thời điểm thị trường đảo chiều là những cơ hội tốt để kiếm lợi nhuận. Trong tình hình hiện nay và theo các phân tích kỹ thuật, các nhà đầu tư nên đầu tư ngắn hạn trong thời gian từ 2 tuần đến 1 tháng và đây chưa phải là thời điểm để đầu tư dài hạn”.

Dân trí

Vàng, Dầu và Thị trường tài chính

Saturday, September 27, 2008 |

Năm 2008 chứng kiến giá vàng, dầu biến động phức tạp. Dầu thô từ dưới ngưỡng 100 USD/1 thùng hồi đầu năm sau đó liên tiếp chinh phục các đỉnh cao mới cho đến lúc chạm ngưỡng cao nhất mọi thời đại là 147,24 USD/1 thùng (1 thùng = 158,987295 lít). Giá vàng cũng có lúc đạt 1032 USD/1 oz (0 , 83 lượng) trước khi cả hai lao dốc dữ dội. Thị trường tài chính (TTTC) bao gồm các thị trường chứng khoán (TTCK), hối đoái, phái sinh, tiền tệ… cũng liên tục biến động không ngừng cùng với vàng và dầu. Như vậy vàng, dầu và TTTC có sự tương quan như thế nào?

Tương quan giá vàng, dầu với TTTC thế giới
Cho đến ngày 1 6 /8 giá dầu đã ở dưới ngưỡng 120 USD/1 thùng, giá xăng giảm từ ngưỡng 4 USD/1 gallon (tương đương 3,785 lít) xuống sát ngưỡng 2 USD/1 gallon, dầu thô ngọt nhẹ (light sweet crude oil) giao ngay tại New York chạm ngưỡng 11 1 USD/1 thùng. Đặc biệt giá dầu thô Brent biển Bắc (Brent crude oil) giao ngay tại Luân Đôn có lúc còn chạm ngưỡng 11 0 USD/1 thùng. Giá kim loại màu cũng giảm mạnh trong đó vàng giảm từ 988 USD/1 oz xuống sát 77 0 USD/1 oz vào ngày 1 5 /8. Điều này ngay lập tức ảnh hưởng đến TTTC khi đồng USD phục hồi mạnh mẽ, USD Index từ xấp xỉ 70 điểm đã vượt qua 77 điểm làm tỷ giá các đồng tiền mạnh khác như Euro, bảng Anh giảm sâu. Chẳng hạn tỷ giá của đồng Euro với đồng USD đã giảm chạm mức 1,4 sau khi đã có thời điểm tỷ giá của cặp tiền này còn ở mức 1,6. Đồng USD mạnh lên đẩy các hàng hóa được định giá bằng đồng tiền này rớt thê thảm, vàng, dầu cũng không phải là ngoại lệ. Các chỉ số chứng khoán trên thế giới phản ứng khá tích cực khi đa số đều tăng điểm do niềm tin của các nhà đầu tư về nền kinh tế phần nào phục hồi, dòng tiền từ thị trường vàng, dầu cũng dịch chuyển bớt sang TTCK.

Tương quan giá vàng, dầu với TTTC Việt Nam

Tại Việt Nam, với việc giá xăng, dầu được Nhà nước kiềm chế nên nửa đầu năm 2008 giá mặt hàng này vẫn bình ổn. Mặc dù giá xăng, dầu mới được điều chỉnh tăng nhưng nếu giá trên thế giới tiếp tục xuống thì giá xăng, dầu tại Việt Nam sẽ được điều chỉnh giảm tiếp tục. Tỷ giá đồng USD/VND đã có lúc cách biệt rất lớn giữa tỷ giá được niêm yết của các Ngân hàng với thị trường tự do. Nhưng với chính sách quyết liệt của Nhà nước mà từ tháng 7 tỷ giá này đã đi dần vào ổn định. Với việc đồng USD tăng giá mạnh mẽ nhưng tại Việt Nam tỷ giá vẫn ổn định, thậm chí có lúc giảm nhẹ. TTCK đang có nhiều dấu hiệu đang trong giai đoạn tích lũy khi TTCK có xu hướng đi ngang theo hướng lên nhẹ. Điều này làm giảm áp lực lạm phát lên nền kinh tế đồng thời nếu những tín hiệu tích cực này tiếp tục duy trì thì nền kinh tế sẽ sớm phục hồi và tăng trưởng bền vững.


Tuy nhiên cho đế n ngày 16/8 giá vàng Việt Nam hiện nay cao hơn giá vàng thế giới đến hơn 1 triệu đồng /01 lượng, trong khi giá đồng USD trên thị trường tự do và ngân hàng vẫn cân bằng (thông thường giá vàng cao hoặc thấp hơn giá vàng thế giới khi người ta kỳ vọng đồng USD giảm hoặc tăng giá, nghĩa là giá USD trên thị trường tự do phải thấp hoặc cao hơn giá niêm yết). Như vậy giá vàng tại Việt Nam hiện nay mang nhiều yếu tố tâm lý và đầu cơ theo như lời ông Phí Đăng Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối – Ngân hàng Nhà nước.

Nhà đầu tư trên TTTC trong thời buổi giá vàng, dầu đầy biến động
Với các nhà đầu tư (NĐT) giá lên trên thị trường vàng, dầu thì đây là một sự “tra tấn” khi phải chứng kiến 5 tuần sụt giảm liên tiếp và đang phải đối mặt với khả năng tuần thứ 6 sụt giảm. Và đây là một sự thử thách quá lớn với những nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật khi vàng, dầu liên tục phá vỡ những ngưỡng hỗ trợ. Với những nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản tình hình cũng không khá hơn khi tình hình kinh tế trên thế giới nhìn chung vẫn rất ảm đạm, chưa kể trong tháng 7 và 8 căng thẳng tại khu vực Trung Đông khi Iran cương quyết không dừng chương trình làm giàu uranium của họ. Iran nói rằng họ phát triển chương trình nhằm mục đích hòa bình là sản xuất điện trong khi các nước phương Tây cho rằng đây là chương trình phát triển vũ khí hạt nhân. Đầu tháng 8, các nước phương Tây đã tiếp tục tăng thêm biện pháp trừng phạt nước này và Iran nói trong trường hợp bị tấn công họ sẽ đóng cửa eo biển Hormuz nơi trung chuyển 40% lượng dầu cung cấp ra thế giới bằng đường thủy phải đi qua eo biển này. Ngoài ra trong tháng 8 chiến tranh giữa Georgia - Nam Ossetia là yếu tố hỗ trợ cho giá dầu khi Georgia vốn là nơi trung chuyển khí đốt quan trọng từ biển Caspean sang phương Tây với tuyến đường ống dẫn dầu BTC (Baku-Tbilisi-Ceyhan) dài 1.774 km chuyển dầu từ các mỏ của Azerbaidjan với dung lượng 1,2 triệu thùng 01 ngày trên biển Caspean đến cảng Ceyhan của Thổ Nhĩ Kỳ ở Địa Trung Hải. Ngoài ra các thông tin kinh tế của các nền kinh tế mạnh như EU, Mỹ ... nhìn chung vẫn còn xấu chưa có dấu hiệu nổi bật cho thấy các nền kinh tế trên sẽ tăng trưởng bền vững. Mặc dù vậy giá vàng, dầu vẫn không thoát khỏi đà sụt giảm.

Ngược lại với các NĐT nắm giữ vàng, dầu các NĐT trên TTCK vui mừng khi TTCK tăng điểm. Các NĐT trên thị trường tiền tệ nắm giữ đồng USD còn vui mừng hơn trước sự hồi phục mạnh mẽ của đồng tiền này nhờ sự giảm giá của các đồng tiền khác.

Giá vàng, dầu giảm có phải tín hiệu đáng mừng?
Với đại đa số mọi người dân đều vui mừng khi giá dầu hạ, kéo giá vàng giảm theo. Điều này sẽ góp phần kéo giá cả hàng hóa giảm, làm lạm phát giảm, áp lực lên cuộc sống của người dân cũng giảm đi. Tuy nhiên việc giá dầu hạ trong lúc nền kinh tế phát triển ổn định thì đây thật sự là một tin mừng vì người dân sẽ đẩy mạnh tiêu dùng hơn nhưng với tình hình kinh tế toàn cầu còn nhiều khó khăn thì vấn đề này còn phải xem xét lại. Bởi vì việc giá hàng hóa đi xuống chứng tỏ kinh tế thế giới cũng đi xuống, là dấu hiệu tiêu cực của nhu cầu tiêu dùng đồng nghĩa với các chính sách điều hành ngày càng thắt chặt. Khi giá hàng hóa giảm cũng làm các nhà sản xuất thiếu động lực để sản xuất và phát triển sản phẩm. Ngoài ra việc giá dầu giảm mạnh liên tục sẽ không loại trừ việc OPEC sắp tới sẽ giảm lượng cung ra thị trường để ngăn chặn việc giá dầu tiếp tục đi xuống. Bởi vì một khi giá dầu đã thiết lập mặt bằng giá mới việc giá xuống quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng lợi nhuận của các quốc gia này.

Đồng USD tăng giá mạnh lần này không phản ánh tình hình kinh tế Mỹ mạnh lên mà là do các đồng tiền khác yếu đi. Điều này thể hiện qua việc hàng loạt số liệu kinh tế của các nền kinh tế mạnh như EU, Úc, Nhật, Canada không khả quan. Trong bài phát biểu trong cuộc họp báo gần đây, Chủ tịch Ngân hàng TW Châu âu ECB ngài Trichet thừa nhận nhiều khó khăn mà nền kinh tế Châu âu vẫn đang phải đối mặt cộng thêm lạm phát vẫn ở mức cao nên ECB vẫn chưa thể tăng lãi suất góp phần khống chế lạm phát. Tình hình kinh tế tại Mỹ cũng không khá hơn khi danh sách thua lỗ của các doanh nghiệp ngày càng dài hơn, tỷ lệ thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp vẫn tăng cao, chính phủ Mỹ vẫn phải kéo dài thời gian cho các khoản vay thế chấp, TTCK Mỹ tuy có tăng điểm nhẹ nhưng các chỉ số vẫn còn ở mức thấp như chỉ số Dow Jones vẫn chưa thoát khỏi ngưỡng 11.000 sau khi có lúc đạt 14.000. Mặc dù vẫn có một số thông tin khả quan như tín dụng tiêu dùng tăng, dự trữ dầu thô đầu tháng 8 tăng (nhưng dự trữ xăng lại giảm rất mạnh, có thể lý giải do công suất nhà máy giảm), chỉ số sản xuất có chiều hướng tăng .. . Ngoài ra việc Ủy ban điều hành thị trường mở của FED (FOMC : Federal Open Market Committee ) trong cuộc họp lãi suất gần nhất vẫn tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức 2% và ngài Ben Bernanke Chủ tịch FED cảnh báo nguy cơ đi xuống của nền kinh tế Mỹ vẫn còn, thị trường tài chính tiếp tục căng thẳng.

Như vậy có thể thấy việc đồng USD tăng mạnh, vàng, dầu giảm thê thảm từ nửa cuối tháng 7 đến nay mang nặng yếu tố đầu cơ, khi đồng loạt nhiều nhà đầu tư bán vàng, dầu ra đẩy giá đồng USD tăng vọt. Trong đó việc ECB trong tháng 8 bán ra 1,5 tấn vàng (theo hiệp ước bán vàng), Quỹ giao dịch vàng hoán đổi lớn nhất thế giới SPDR Gold Shares trong ngày 5/8 bán ra 15,32 tấn vàng (trước đó Quỹ này cũng đã có một số động thái bán ra) kéo theo sự bán ra ồ ạt của các nhà đầu tư khác. Và nếu dõi theo lịch sử, ta nhận thấy mỗi khi vàng, dầu giảm giá mạnh thì đó là dấu hiệu cho một đợt tăng giá kỷ lục khác. Bởi vậy các doanh nghiệp, nhà đầu tư vẫn hết sức cảnh giác tránh tối đa tâm lý chủ quan và những chính sách kinh tế vĩ mô vẫn phải tiếp tục bám sát thị trường.

Để thành công trên TTTC trong thời đại toàn cầu hóa
Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các TTTC đều có sự liên thông nhất định với nhau bởi vậy để thành công trên TTTC lại càng khó khăn hơn bao giờ hết, khi mà các NĐT không những chỉ hiểu biết TTTC tại quốc gia đang đầu tư mà còn phải hiểu sự tương quan với TTTC toàn cầu. Các doanh nghiệp ngoài việc tìm chuyên gia giỏi đã đến lúc tìm thêm cho mình một nhân vật có khả năng tổng quan bức tranh toàn cầu. Chuyên gia giỏi sẽ giúp doanh nghiệp phát triển nhưng nhân vật hiểu được hệ thống toàn cầu sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro tác động từ thị trường và định hướng phát triển trong từng giai đoạn thị trường. Còn với NĐT, việc hiểu rõ hệ thống TTTC toàn cầu sẽ giúp họ xác định lĩnh vực nào phát triển trong từng thời kỳ, từ đó đề ra chiến lược thực hiện. Chẳng hạn trường hợp của John Paulson, người điều hành Quỹ Paulson & Co, một Quỹ đầu tư hạng trung có trụ sở tại New York. Ông đã mang lại mức lợi nhuận 14 tỷ USD trong năm 2007 cho Quỹ đầu tư của mình từ số vốn ban đầu là 7,1 tỷ USD đưa tổng tài sản của Quỹ lên hơn 21 tỷ USD (trong khi nhiều tập đoàn khổng lồ đều thua lỗ nặng nề trong năm 2007) , nhờ đánh giá đúng khủng hoảng địa ốc cho vay nhà dưới chuẩn bắt đầu từ năm 2006 tại Mỹ lan rộng ra thị trường tài chính và ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Điều này đã làm cho các nhà đầu tư vĩ đại như George Soros, Warren Buffett phải kính trọng và nguyên chủ tịch FED, Alan Greenspan đã đồng ý về làm cố vấn cho Quỹ Paulson & Co.

Saga

Đọc, hiểu báo cáo tài chính khó hay dễ?

Thursday, September 25, 2008 |

Nhiều nhà đầu tư cho rằng, bảng cân đối kế toán của các công ty rất khó đọc. Nếu không phải là người có kiến thức cơ bản về tài chính kế toán thì không hiểu bảng này có ý nghĩa gì. Thực sự thì đây là một trong những nguồn thông tin rất quan trọng, cho biết sức mạnh tài chính của một công ty.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đối với các công ty niêm yết, nhà đầu tư chứng khoán dễ dàng thu thập báo cáo tài chính từ rất nhiều website của các công ty chứng khoán. Việc phân tích báo cáo tài chính là một việc làm quan trọng đối với những cổ đông - người có lợi ích sát sườn đối với thu nhập và các luồng tiền của công ty bởi những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu.

Việc phân tích báo cáo tài chính là phân tích các dữ liệu nhằm đánh giá tính linh hoạt - tức khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn của công ty; khả năng sinh lời, chính là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh; khả năng thanh toán, nghĩa là khả năng thực hiện những trách nhiệm nợ dài hạn của công ty.

Phân tích các hệ số tài chính sẽ cho thấy mối quan hệ đầy đủ ý nghĩa hơn giữa các giá trị riêng lẻ trong báo cáo tài chính.

Nếu như một con số riêng lẻ trong một báo cáo tài chính không thực sự nói lên nhiều điều thì, một hệ số tài chính riêng lẻ cũng có giá trị rất thấp nếu chúng ta không xét nó trong mối tương quan với các hệ số khác.

Từ những hệ số được phân tích, chúng ta sẽ có những so sánh quan trọng nhằm xem xét kết quả hoạt động của công ty trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế; lĩnh vực ngành của công ty; các nhà cạnh tranh chủ yếu trong phạm vi ngành; kết quả hoạt động trước đây của công ty...

Trước khi đi vào phân tích các hệ số cụ thể, cần lưu ý rằng ngoài việc được coi là những công cụ phân tích có giá trị thì các hệ số tài chính, tự bản thân nó, cũng có một số hạn chế nhất định. Nó có thể cho chúng ta thấy tiềm năng phát triển cũng như điểm yếu của một công ty, nhưng những hệ số tài chính này sẽ không đưa ra những câu trả lời xác định, và nó cũng không đưa ra các dự đoán.

Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của công ty trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Khả năng thanh toán thường được phân tích bằng việc tính toán các hệ số sau:

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời

Hệ số này thường được sử dụng để xem xét khả năng thanh toán nợ đến hạn thanh toán của công ty.

Ở đây, nợ ngắn hạn được sử dụng làm mẫu số bởi vì chúng là những khoản nợ cần phải được thanh toán gấp trong vòng một năm. Các nguồn tiền mặt sẵn có nhằm đáp ứng những nghĩa vụ này phải được trích chủ yếu từ nguồn tiền của công ty hoặc tiền được chuyển đổi từ các tài sản ngắn hạn khác.

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn.

Để làm sáng tỏ tầm quan trọng của hệ số này, cần phải đánh giá khả năng thanh toán trong một giai đoạn dài và cần phải so sánh với mức trung bình của ngành, đồng thời cũng rất cần phải xem xét các yếu tố cấu thành hệ số này.

Cần ghi nhớ rằng, bảng cân đối kế toán được lập vào một ngày xác định, và số lượng tài sản lưu động có thể thay đổi đáng kể tại thời điểm phân tích so với thời điểm được ghi trên bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, tài khoản các khoản phải thu và hàng tồn kho có thể không thực sự có khả năng thanh toán.

Ví dụ, một công ty nào đó có thể có hệ số khả năng thanh toán hiện thời tương đối cao nhưng chưa chắc công ty đó đã đáp ứng được các yêu cầu về tiền bởi vì tài khoản các khoản phải thu thường thuộc dạng có tính thanh khoản thấp, hay tài khoản hàng trong kho chỉ có thể bán được bằng cách giảm giá.

Do vậy, chúng ta cần xem xét các yếu tố khác, các biện pháp tính toán để xác định khả năng thanh toán của từng nhóm tài sản cụ thể.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số này còn gọi là hệ số thử axit, là cách tính khả năng thanh toán nợ ngắn hạn chính xác hơn so với hệ số khả năng thanh toán hiện thời bởi vì tử số đã bị loại bỏ bớt khoản mục hàng tồn kho. Tuy nhiên, hệ số này cũng cần được xem xét trong mối tương quan với chiều hướng phát triển của chính công ty và của các công ty khác trong ngành.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động- hàng trong kho/Nợ ngắn hạn.

Hệ số tài sản tiền tệ

Hệ số này sẽ xem xét dòng tiền phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tử số của hệ số này chính là tổng tất cả các nguồn tiền bao gồm tiền sẵn có, các chứng khoán khả mại và luồng tiền phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Giá cổ phiếu của một công ty được quyết định bởi nhiều yếu tố và một báo cáo tài chính “đẹp” cũng góp phần để đẩy giá cao thêm.

Investor's Business Daily (IBD) là tờ nhật báo của một tổ chức tư vấn và đầu tư uy tín trên thị thị trường chứng khoán quốc tế. Dưới đây là một số gợi ý đánh giá cổ phiếu tốt mà IBD đưa ra.


Chỉ tiêu lợi nhuận

Thu nhập dòng hay lợi nhuận sau thuế có thể được xem xét bằng tổng lợi nhuận hay xét trên một đơn vị cổ phiếu (EPS). Một công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập khi tốc độ tăng trưởng thu nhập của quý sau cao hơn quý trước.

Một cổ phiếu tốt có tốc độ gia tăng về tăng trưởng thu nhập cao hơn so với 3 hay 4 quý trước liền kề. Tăng trưởng của chỉ số thu nhập ít nhất là 25% so với cùng quý của năm trước. EPS hàng năm của cổ phiếu tốt ít nhất phải tăng trưởng 25% so với 3 năm trước đó.

Theo cách nghĩ thông thường thì nên chọn mua những cổ phiếu có P/E thấp (P/E: Chỉ số giá chia cho thu nhập của mỗi cổ phiếu), và cho rằng những cổ phiếu có chỉ số này cao là đắt và không nên mua.

Thực tế cho thấy, những cổ phiếu tốt nhất thường có chỉ số này cao. Nên chọn cổ phiếu của những công ty thua lỗ trước khi công ty đó trở lại trạng thái có lãi khi các nhà đầu tư khác phát hiện ra nó.

Một số tiêu chí chọn lựa cổ phiếu căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận bao gồm: Dựa vào thực hiện thu nhập quan trọng hơn thu nhập dự kiến; lựa chọn những công ty có tốc độ tăng trưởng thu nhập ít nhất 25% ở quý gần nhất; lựa chọn công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập ở 3 hay 4 quý gần nhất; lựa chọn công ty có thu nhập hàng năm tăng trưởng ít nhất 25% so với mỗi năm của 3 năm trước.

Lượng hàng bán (doanh thu)

Lượng hàng bán là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường một công ty có sức mạnh hay không và là nhân tố chính của tăng trưởng. Khi chọn lựa cổ phiếu tốt hãy tìm công ty có tốc độ bán hàng mạnh để làm tiền đề cho tăng trưởng thu nhập.

Một số biểu hiện có thể xem xét khi một công ty gia tăng lượng hàng bán như nhiều khách hàng hơn, khách hàng tăng lượng mua, công ty giới thiệu sản phẩm mới hoặc thâm nhập vào thị trường mới, công ty cải thiện sản phẩm cũ.

Tiêu chí để xác định công ty có tăng trưởng bán hàng tốt nếu 3 quý gần nhất có sự tăng lượng hàng bán lớn hơn hoặc bằng 25% so với quý gần nhất trước đó.

Cần xem xét kỹ chỉ tiêu doanh thu vì đôi khi lượng hàng bán vẫn ẩn chứa những vấn đề. công ty có thể quá phụ thuộc vào một số khách hàng, phụ thuộc quá nhiều vào một số mặt hàng hay quá phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu.

Với những nhà bán lẻ, nếu mở thêm một cửa hàng mới cũng làm tăng thêm lượng hàng bán ngay cả khi lượng hàng bán ở những cửa hàng cũ đang xấu đi.

Cũng cần lưu ý đến việc công ty thêm vào lượng hàng bán được mà thực tế nó chưa xảy ra, hay các đơn đặt hàng mà không được chuyển đi hay chưa thu được tiền bán đã được hạch toán làm gia tăng lượng hàng bán.

Chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu

Lợi nhuận dòng đánh giá tỉ lệ chuyển doanh thu thành thu nhập. Trên quan điểm của nhà đầu tư, nên tìm những công ty có sự tăng về tỉ lệ lợi nhuận dòng/doanh thu. Con số này càng lớn thì công ty có sự tốt lên về quản lý và có sự tốt lên trong các hoạt động.

Lợi nhuận dòng có thể là đầu mối chủ yếu tìm cổ phiếu để mua và nên so sánh chỉ số này giữa các công ty có ngành nghề tương đồng. Tiêu chí để xác định cho chỉ tiêu này là lợi nhuận trước thuế ít nhất đạt 18% doanh thu. Yêu cầu lợi nhuận sau thuế luôn đạt 10% trở lên.

Tuy nhiên, cũng cần phải xét cả những chỉ tiêu cơ bản khác như tăng truởng thu nhập. Mức tăng về lợi nhuận dòng sẽ ít đi nếu doanh thu giảm, ngoại trừ có sự thay đổi về chiến lược của công ty khi cắt giảm những dây chuyền sản xuất không hiệu quả. Nếu lợi nhuận có xu hướng giảm, đó có thể là tín hiệu cho thấy công ty đang đánh mất lợi thế cạnh tranh.

Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Đây là chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá sự hiệu quả của hoạt động tài chính đóng góp cho sự phát triển của công ty. ROE cho biết công ty sử dụng tiền của cổ đông có tốt hay không. Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng lợi nhuận và quản lý hiệu quả.

Nói chung, nên tránh những công ty có chỉ số này nhỏ hơn 17%. Hầu hết mọi ngành, chỉ số này của những công ty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến 30%, cá biệt có những công ty đạt trên 40%. Chỉ số này có xu hướng cao lên theo thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới đã cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất.

(Theo Lao Động)

I. Phân tích nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán

1. Môi trường chính sách và pháp luật
v Hệ thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân TTCK và hoạt động của
các doanh nghiệp. Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác động tốt
hoặc xấu tới TTCK, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm.
v Môi trường chính trị – xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động
của TTCK. Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt
động chính trị, sửa đổi chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK.
v Môi trường pháp luật là yếu tố quan trọng tác động tới TTCK.
Do vậy môi trường pháp lý cần đuợc xem xét trên các góc độ:
§ Hệ thống hành lang pháp lý của TTCK được xây dựng như thế nào, có đủ bảo
vệ quyền lợi chính đáng của người đầu tư hay không?
§ Những mặt khuyến khích, ưu đãi, hạn chế được quy định trong hệ thống pháp
luật.
§ Sự ổn định của hệ thống luật pháp, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng
đến TTCK.

2. Các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô
Có 3 nhân tố vĩ mô cơ bản nhất tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư trên
TTCK:
v Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi
trường tài chính và chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở
nước ngoài.
v Lạm phát: là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và
tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó
khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới
doanh nghiệp.
v Lãi suất: Lãi suất Trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay
đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán,
khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm
xuống, ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng
lên.
Khi nền kinh tế phát triển tốt thì TTCK có xu hướng đi lên và ngược lại khi kinh tế
giảm sút thì TTCK đi xuống. Như vậy, nếu dự đoán được xu hướng phát triển của
nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK. Vì vậy, các
nhà đầu tư cần phải cố gắng dự đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm
của chu kỳ kinh tế và chọn thời cơ để tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường chứng
khoán một cách hợp lý nhất.

II. Phân tích ngành

Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm, hoá chất,
công nghệ thông tin, cơ khí, dịch vụ tài chính….Trong quá trình phân tích cần
xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý. Vì
vậy, ngoài việc nghiên cứu chính bản thân ngành đó, còn phải nghiên cứu các
vấn đến có ảnh hưởng lớn đến các ngành sản xuất như: chính sách xuất,
nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, các quy định về thuế của Chính phủ đối với
một ngành cụ thể nào đó.
v Trước khi phân tích từng loại chứng khoán riêng lẻ, bạn cần phải phân tích
hoạt động toàn ngành trước những vấn đề:
§ Lợi nhuận và khả năng tăng trưởng của ngành đó.
§ Cần theo dõi động thái hoạt động ngành để tìm cơ hội đầu tư và rút vốn đúng
lúc.
§ Vào cùng một thời điểm các ngành khác nhau sẽ có mức rủi ro khác nhau, do
đó cần đánh giá mức độ rủi ro của từng ngành để xác định mức lợi suất đầu tư
tương xứng cần phải có.
§ Phân tích mức rủi ro từng ngành trong quá khứ để dự đoán rủi ro trong tương
lai.


III. Phân tích tài chính công ty

Việc phân tích các báo cáo tài chính là việc phân tích các dữ liệu có trong các
báo cáo tài chính (chủ yếu là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh
doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) nhằm đánh giá:
§ Tính linh hoạt, nghĩa là khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn
của công ty.
§ Khả năng thanh toán, khả năng thực hiện trách nhiệm nợ dài hạn của công ty.
§ Khả năng sinh lời, là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh.

Các hệ số tài chính cơ bản cần phân tích:
I. Hệ số khả năng thanh toán
v Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của công ty trong việc
thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Ta thường xét đến các hệ số sau:
Tổng tài sản lưu động - Hàng tồn kho

1. Hệ số thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn
v Hệ số này nói lên việc công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn
hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển từ tài sản lưu động
khác về tiền mặt.
v Hệ số này > 1 thì được đánh giá là an toàn vì công ty có thể trang trải các
khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu hay doanh số bán.
v Đây là hệ số phản ánh sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa
vụ nợ hiện thời. Hệ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt.

II. Khả năng lợi nhuận
v Việc tính toán khả năng lợi nhuận chỉ ra số lợi nhuận mà một công ty đạt được
sau khi có doanh thu.
v Hệ số này cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá
trình hoạt động của doanh nghiệp.
v Hệ số lợi nhuận cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh
thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động, điều đó rất có lợi cho quá trình hoạt
động của doanh nghiệp.
v Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng của một công ty so với
doanh thu của nó.
v Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản
thân 1 ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng yếu tố đầu vào tốt hơn thì sẽ
có hệ số lợi nhuận cao hơn.
Tiền + Các chứng khoán có thể bán trên thị trường
3. Hệ số thanh toán tức thời = T ng n ng n h n
Tiền + Các chứng khoán khả mại
2. Hệ số thanh toán tức thời = Tổng nợ ngắn hạn
Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi
3. Hệ số thu nhập cổ phiếu phổ thông = Mệnh giá CP Pthông + Thặng dư vốn + Lợi nhuận để lại

Lợi nhuận hoạt động
1. Hệ số lợi nhuận = Doanh thu
Lợi nhuận hoạt động
Lợi nhuận ròng
2. Hệ số lợi nhuận ròng = Doanh thu
v Tỷ lệ này là một trong các biện pháp quan trọng đo lường khả năng tạo lợi
nhuận của công ty năm nay so với các năm khác. Công thức này so sánh số
thu nhập của các cổ đông phổ thông mỗi năm với giá trị của các cổ phiếu công
ty. Hệ số này càng cao càng tốt.
4. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần.
v Hệ số này phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông. Hệ số
này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh các cổ phiếu trên thị
trường.
v Thông thường hệ số này càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho
thấy khả năng sinh lời và tỷ suất lợi nhuận của công ty.
v Chỉ tiêu này được dùng để xác định giá trị của một cổ phiếu theo số liệu trên
sổ sách, một nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này để so sánh với giá
trị thị trường của cổ phiếu, nếu chỉ tiêu này càng thấp hơn so với giá trị thị
trường của cổ phiếu đó thì càng đỡ rủi ro.


III. Đánh giá thu nhập
1. Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
v EPS là thu nhập trên mỗi cổ phiếu của cổ đông phổ thông.
v Chỉ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt vì khi đó khoản thu nhập trên
mỗi cổ phiếu sẽ cao hơn.
2. Hệ số giá / thu nhập
v Hệ số P/E là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong quyết định đầu tư
chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu có ảnh hưởng quyết định
Tổng tài sản - Tổng số nợ - Cổ phiếu ưu đãi
Giá trị sổ sách =
của cổ phiếu phổ thông Số cổ phiếu phổ thông
Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi
EPS =
Số lượng cổ phiếu phổ thông
Giá thị trường
P/E =
Thu nhập của mỗi cổ phiếu
Lợi nhuận ròng
ROE =
Vốn cổ đông
đến giá thị trường của cổ phiếu đó còn hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa
giá thị trường và thu nhập trên mỗi cổ phiếu.
v P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu
lần, hay nhà đầu tư phải trả bao nhiêu đồng cho một đồng thu nhập.
v Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu.
v P/E cao có nghĩa là người đầu tư dự kiến công ty sẽ tăng trưởng nhanh và cổ
tức sẽ tăng cao trong tương lai.
v Hệ số này đo lường tỷ lệ phần trăm lợi nhuận ròng trả cho cổ đông phổ thông
dưới dạng cổ tức. hệ số này càng cao thì cổ phiếu đó càng nhận được sự
quan tâm của các nhà đầu tư, bởi lẽ họ sẽ được trả mức cổ tức cao cho mỗi
cổ phiếu nắm giữ.
v Hệ số này thể hiện tỷ lệ giữa mức cổ tức chi trả so với giá trị thị trường hiện
thời của cổ phiếu, nó phản ánh lợi tức mong đợi của nhà đầu tư khi mua một
loại cổ phiếu tại thời điểm hiện tại.
v Nếu tỷ lệ này càng cao thì càng được các nhà đầu tư quan tâm.
Cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu phổ thông hàng năm
3. Hệ số chi trả cổ tức = Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Cổ tức hàng năm của mỗi cổ phiếu phổ thông
4. Lợi tức hiện thời = Giá thị trường hiện thời

Nguồn Vinase.com

Trong khi các mã blue-chips đang chững lạI thì xu hướng lên giá của nhóm cổ phiếu giá thấp (penny stocks ) đang tạo cơ hội cho nhiều nhà đầu tư.


Sau khi tham vấn một chuyên gia chứng khóa, anh Thanh Tùng, một nhà đầu tư trên sàn Agribank nhẩm tính, trên thực tế, nếu thị trường đi lên, 1 blue-chip lời được 5% thì những mã vừa và nhỏ cũng có mức lợi nhuận tối đa là 5%.

Như vậy nếu đầu tư vào nhóm cổ phiếu giá thấp 20-25.000 đồng/CP, cuối năm sẽ thu cổ tức là 2.000 – 2.500 đồng/CP xem ra còn hời hơn việc đầu tư vào loạI blue-chips giá 100.000 đồng/CP mà cũng chỉ thu được có 4.000 đồng/CP.

Không những thế, vốn đầu tư cho các cổ phiếu penny stosks cũng ít hơn so với các blue-chip SSI, FPT... “Như vậy với mong muốn có lợi nhuận, các nhà đầu tư ít vốn hoàn toàn có được mức lời hợp lý khi đầu tư vào penny stosk chứ không nhất thiết cứ chăm chăm lao vào các mã blue-chip giá cao để mong có cơ hội kiếm lời” anh Tùng hào hứng.

Theo số liệu của các sàn giao dịch, khoảng 1 tháng trở lại đây, lượng cầu đối với nhóm cổ phiếu nhỏ đã tăng lên rất cao. Hiện toàn thị trường có khoảng 50/162 mã chứng khoán có giá dưới 20.000 đồng. Nhiều phiên liên tiếp các penny stocks như: UIC, PXM, BTA DPR, ALP, VIP, HTV… điển hình trong sự tăng giá lần này. Trong các phiên giao dịch, lượng đặt mua luôn cao gấp hàng trăm lần lượng bán.

“Một số penny stock trong số 50 mã trên đang có giá trị tăng đột biến so với hồi tháng 7”, Thanh Vân, sinh viên Học viện Ngân hàng, đồng thời cũng là nhà đầu tư trên sàn Habubank cho biết.

Vân khoe đang có trong tay danh sách 20 cổ phiếu tiềm năng do công ty chứng khoán Quốc tế Việt Nam (VIS) vừa công bố.

“Không ít trong số đó là những cổ phiếu mini giá nhỉnh hơn 20.000 đồng một chút như HMC, SMC, GHA, HAP, RAL, SAS, RHC... “, nhà đầu tư trẻ nói.

Cô sinh viên chuyên ngành tài chính này quả quyết, thời điểm này đầu tư vào cổ phiếu của nhóm các công ty có giá trị thấp là phương án hợp lý vì sẽ an toàn, hứa hẹn khả năng sinh lời cao khi nền kinh tế qua cơn bĩ cực.

Các chuyên gia tài chính vẫn luôn nhắc nhà đầu tư lưu ý, phải tỉnh táo, sáng suốt sàng lọc những cổ phiếu ưu tú nhất trong nhóm penny stock để có thể đầu tư dựa trên những nhóm ngành ảnh hưởng lợi ích kinh tế vĩ mô từ nay cho đến cuối năm.

Giao dịch không sàn: Lợi ích cho cả 4 chủ thể

Wednesday, September 24, 2008 |

Theo dự kiến, tháng 12/2008, Sở GDCK TP. HCM (HOSE) sẽ tiến hành giao dịch không sàn. Đợt thử nghiệm lần 1 đã kết thúc vào ngày 15/9 vừa qua, từ ngày 21/9 đến ngày 15/11 sẽ diễn ra đợt thử nghiệm lần 2. Báo ĐTCK đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó tổng giám đốc HOSE về công tác thử nghiệm và một số vấn đề liên quan.

Xin ông giới thiệu những nét chính về phương thức giao dịch không sàn hiện HOSE và các CTCK đang triển khai?

Về mặt công nghệ, hệ thống gateway của HOSE hỗ trợ giao dịch trực tuyến sử dụng giao thức TCP/IP. Đây là giao thức phổ biến để truyền dữ liệu qua mạng, vì vậy khá linh động cho các CTCK lựa chọn giải pháp phần mềm phù hợp. Về nội dung, đây là hệ thống giao dịch tự động cho phép các lệnh mua , bán chứng khoán của nhà đầu tư từ các CTCK được chuyển thẳng vào hệ thống giao dịch của HOSE. Để sẵn sàng kết nối đến HOSE, CTCK cần xây dựng module mới theo phương thức đặc tả phù hợp với giao thức của HOSE cung cấp. Sự chuẩn bị của các CTCK là hạ tầng kỹ thuật, bao gồm phần cứng và hệ thống dự phòng có khả năng thay thế, các giải pháp phần mềm phù hợp, đồng thời xây dựng đội ngũ nhân lực công nghệ đủ năng lực chuyên môn để vận hành.

Ông có thể cho biết lợi ích và những điều cần chú ý khi tiến hành giao dịch không sàn?

Về phía thị trường, hệ thống giao dịch trực tuyến này sẽ khắc phục một số hạn chế của hệ thống hiện nay, giúp tăng tính thanh khoản, việc hủy và sửa lệnh sẽ giảm, loại trừ yếu tố cạnh tranh do tác động của con người… Về phía HOSE, giải quyết được khó khăn hiện nay là diện tích sàn giao dịch hạn chế, trong khi số đại diện các CTCK đang tăng lên. Về phía CTCK, giải quyết được tình trạng "thắt cổ chai" trong khâu nhập lệnh. Về phía NĐT, có nhiều tiện lợi, các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, bảo mật, không phụ thuộc vào nhân viên môi giới, tiết kiệm thời gian, chi phí giao dịch...

Ban đầu, khi giao dịch không sàn, một số NĐT có thể lạ lẫm, nhưng dần sẽ quen. Tuy nhiên, về nguyên tắc, khi hệ thống phát triển càng rộng, vấn đề bảo mật và an ninh càng yêu cầu cao hơn. Hệ thống của HOSE đang trong quá trình nâng cấp bảo mật từ hai lớp dự phòng nguội lên ba lớp dự phòng nóng. Sự bảo mật của các CTCK nằm ở vấn đề tự chủ của họ.

Xin ông đánh giá sơ bộ về đợt thử nghiệm lần 1. Sau đợt thử nghiệm lần 2, việc giao dịch không sàn triển khai như thế nào?

Đợt thử nghiệm lần 1 có 25 CTCK đăng ký tham gia, nhưng 2 CTCK bỏ cuộc do không chuẩn bị kịp và 4 CTCK chưa đạt yêu cầu. Tỷ lệ thành công 76% là tương đối cao. 4 CTCK thử nghiệm không đạt chủ yếu là do nhà cung cấp phần mềm chưa nghiên cứu kỹ các đặc tả do HOSE cung cấp. Trong đợt thử nghiệm lần 2, tất cả các CTCK còn lại đều được phép tham gia. Về giải pháp phần mềm, tôi thấy không có vấn đề gì lớn, vì hầu hết nhà cung cấp dịch vụ phần mềm cho các CTCK thử nghiệm đợt 1 cũng cung cấp cho các CTCK thử nghiệm đợt 2. Vấn đề chỉ là sự chuẩn bị của các CTCK.

Ngay khi kết thúc thử nghiệm đợt 2, HOSE sẽ tổng kết đánh giá công tác thử nghiệm, sau đó báo cáo lên Bộ Tài chính và UBCK, đồng thời thực hiện kiểm tra cơ sở vật chất của các CTCK lần cuối. Những công ty đáp ứng yêu cầu sẽ đưa vào danh sách giao dịch không sàn, tiến hành vào tháng 12 năm nay. Các CTCK khác chưa đáp ứng yêu cầu vẫn giao dịch theo phương thức hiện nay và tiếp tục tham gia thử nghiệm đợt 3, dự kiến vào tháng 1/2009.

Ông đánh giá như thế nào về phần mềm mà các CTCK thử nghiệm trong đợt 1 đã sử dụng?

Có nhiều CTCK nhỏ sử dụng phần mềm trong nước đã đạt kết quả khá tốt, tuy nhiên có CTCK lớn, dù đầu tư mạnh vào công nghệ, nhưng do chủ quan nên vẫn gặp sai sót trong quá trình thử nghiệm. Có thể chia các CTCK làm hai nhóm. Nhóm 1 là các CTCK chỉ đầu tư để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của NĐT như xác nhận với NĐT lệnh mua bán vào được hệ thống, lệnh đã được khớp… Nhóm 2 có một số CTCK đã đầu tư tương đối mạnh, các phần mềm có tính năng nâng cao như theo dõi trạng thái lệnh, số lượng chứng khoán đã được thực hiện trong phiên giao dịch, quản lý danh mục đầu tư, ứng trước tiền ngay khi bán chứng khoán… Tuy nhiên, đầu tư cho phần mềm nào phụ thuộc vào tiềm lực tài chính, định hướng phát triển riêng của từng CTCK.

Sự cạnh tranh giữa các CTCK theo phương thức giao dịch không sàn và theo cách cũ diễn ra sẽ gay gắt, thưa ông?

Sẽ có sự cạnh tranh gay gắt và ưu thế nghiêng sẽ về phía các CTCK giao dịch theo phương thức không sàn, bởi lệnh của NĐT qua mạng Internet sẽ được phần mềm của CTCK tự động kiểm tra số dư tiền mặt (nếu mua) và cổ phiếu (nếu bán). Sau đó, phần mềm của CTCK sẽ tự động quét và nén thành "gói" dữ liệu, tối đa gồm 7 lệnh với tốc độ 1 giây vài lần. "Gói" dữ liệu được chuyển thẳng tới hệ thống của HOSE. Thời gian thực hiện sẽ nhanh hơn rất nhiều với phương thức giao dịch hiện nay là NĐT đặt lệnh mua - bán chứng khoán, nhân viên môi giới của các CTCK kiểm tra tình trạng hợp lý của lệnh, nhập vào hệ thống máy tính, nhân viên khác đọc lệnh tới đại diện tại sàn… Chỉ tính riêng việc đọc lệnh và nhập lệnh vào hệ thống đã mất vài giây, trong khi với phương thức giao dịch mới, về lý thuyết, cho phép gửi tối đa 49 lệnh/giây. Mặt khác, khi tiến hành giao dịch không sàn, phần mềm tự động sẽ kiểm tra tính hợp lý của lệnh, tự động đóng gói dữ liệu, không có sự phân biệt lệnh lớn, lệnh nhỏ, NĐT hoàn toàn bình đẳng trong việc đặt lệnh.

(theo ĐTCK)

Các nhà giao dịch không nên dựa quá nhiều vào những điều kiện trong thực tại do quá trình thị trường diễn ra từ 6-9 tháng so với thời điểm thực tại.

Những con số doanh thu của ngày hôm nay không thể đảm bảo cho việc mua 1 cồ phiếu nào đó trừ khi có sự đảm bảo rằng trong 6-9 tháng nữa những triển vọng kinh doanh sẽ đảm bảo cho người ta tin rằng tốc độ tăng doanh thu được duy trì. Với tầm nhìn xa như vậy bạn có thể thấy rõ rằng những yếu tố đang và sẽ xảy ra, ảnh hưởng tới sức mua thực tế trong hiện tại, và khi đó những lý lẽ cho rằng cổ phiếu đang ở mức rẻ trong hiện tại không còn tồn tại được nữa.

Vấn đề kỳ lạ :

Dù đã phải chịu những khoản tha lỗ nặng nề vì những lần sụt giá từ 15-20 điểm, làm thế nào mà người ta vẫn cố níu kéo những cổ phiếu đó, vui mừng khi giá chỉ phục hồi được 3 điểm và lại chắc chắn rằng giá đã xuống tới điểm thấp nhất và đợt phục hồi hoàn toàn đã bắt đầu.

Luôn nhớ rằng người đầu tiên thấy được nguy cơ sụt giá đang thể hiện là chính là giới nội bộ, họ nhận thức được những điều kiện thực tế của công ty và lập tức giảm bớt số cổ phiếu của họ. Khi sự bán ra đó không nhận được sự hỗ trợ, giá sẽ bắt đầu sụt giảm. Những người trong nội bộ hoàn toàn đúng đắn khi bán ra trong thị trường giá xuống. Nhưng đối với công chúng, những câu chuyện về chiến dịch của những kẻ đầu cơ giá hạ từ giới nội bộ đã khiến họ giữ lại và chịu thua lỗ nặng nề.

Quế Anh (tổng hợp từ Hồi Ức của một thiên tài ĐTCK)