Showing posts with label Tips. Show all posts
Showing posts with label Tips. Show all posts

6 dạng rủi ro khi mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC

Thursday, September 25, 2008 |

Hiện nay bên cạnh 120 loại cổ phiếu, trái phiếu của các công ty được niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán chính thức, thì có một khối lượng khá lớn các loại cổ phiếu khác được giao dịch trên thị trường phi tập trung - OTC.

Cho đến nay chưa có con số chính thức và cũng rất khó có được con số chính xác về tổng trị giá cổ phiếu đang giao dịch OTC, nhưng ước tính tổng doanh số giao dịch cổ phiếu trên thị trường OTC còn lớn hơn cả thị trường chính thức, lên tới cả chục ngàn tỷ đồng.

Bởi vì, trên thị trường OTC các loại cổ phiếu đang giao dịch phần lớn là của các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, nhà máy điện..., những công ty không những có quy mô vốn điều lệ lớn, tổng giá trị cổ phiếu đang giao dịch cao, mà còn thường xuyên phải tăng vốn điều lệ theo chiến lược kinh doanh của mình.

Tuy nhiên, người đầu tư trên thị trường này nên chú ý đến những dạng rủi ro sau đây.

Một là, tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu mới tăng vốn. Một trong những kỳ vọng lớn nhất về lợi ích của người mua cổ phiếu là quyền mua cổ phiếu phát hành tăng vốn. Đây là một khoản thu nhập, một khoản lợi lớn của người sở hữu cổ phiếu. Nhiều loại cổ phiếu giá giao dịch trên thị trường OTC cao gấp 8 lần đến 10 lần, thậm chí 12 - 14 lần mệnh giá gốc.

Tuy nhiên, thông thường trước khi phát hành cổ phiếu tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ đông. Tại thời điểm đó, những ai sở hữu cổ phiếu nằm trong danh sách cổ đông của HĐQT sẽ được mua thêm cổ phiếu mới theo tỷ lệ được ấn định dựa trên số cổ phiếu đang sở hữu.

Với những nhà đầu tư mới, người mua cổ phiếu mới trong giai đoạn giao thời, hoặc khi danh sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết, tiền đã thanh toán cho người chuyển nhượng, mặc dù cổ phiếu mình đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ tục chuyển nhượng, nên mất quyền mua. Quyền mua cổ phiếu mới vẫn thuộc về người chuyển nhượng, trong khi người chuyển nhượng đã bán cổ phiếu của mình đi rồi theo giá thị trường tại thời điểm đó.

Như vậy, các nhà đầu tư mới cổ phiếu trên thị trường OTC cần chú ý luôn luôn thỏa thuận bằng giấy, bằng hợp đồng chuyển nhượng với người chuyển nhượng cổ phiếu, ghi rõ ràng quyền lợi mua cổ phiếu mới tăng vốn thuộc về ai. Loại rủi ro nói là phổ biến nhất trên thị trường OTC trong thời gian qua.

Hai là, tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức. Cổ tức của công ty được chia cho cổ đông dựa trên số lượng cổ phần cổ đông đang nắm giữ. Rủi ro là ở chỗ, khi mua cổ phiếu, người được chuyển nhượng không nắm bắt được thông tin, không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng chuyển nhượng. Do đó người mua mặc dù nắm giữ cổ phiếu đúng tên mình rồi, nhưng không nhận được cổ tức.

Nhà đầu tư L.V.B tại Hà Nội, trong giao dịch mua bán cổ phiếu của Techcombank với một người khác là V.T.H, cán bộ một ngân hàng thời điểm đầu năm 2006, đã xẩy ra tranh chấp quyền lợi về quyền chia cổ tức trị giá hàng trăm triệu đồng, đang phải nhờ đến cơ quan quản lý can thiệp và dự kiến phải đưa ra cơ quan bảo vệ pháp luật để phân xử.

Ba là, rủi ro trong mua bán cổ phiếu chưa được chuyển nhượng. Có cổ phiếu theo quy định nội bộ công ty sau 1 năm mới được chuyển nhượng, nhưng nhiều nhà đầu tư không nắm được thông tin, mua loại cổ phiếu đó.

Và trong thời hạn 1 năm chưa làm được thủ tục chuyển nhượng, thì các quyền lợi về quyền mua thêm cổ phiếu tăng vốn, chia cổ tức..., vẫn thuộc về người đứng tên sở hữu cổ phiếu, còn người đã bỏ tiền ra mua, đang nắm giữ cổ phiếu thì bị chiếm đoạt mất quyền lợi.

Thực tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần E, có trụ sở chính tại Tp.HCM, thời gian qua đã xẩy ra khá nhiều tranh chấp quyền lợi này. Nhiều người đang nhờ đến sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng.

Bốn là, rủi ro trong mua bán cổ phiếu ở thời điểm phát hành. Loại cổ phiếu này trong giới mua bán trên thị trường OTC còn gọi là cổ phiếu cũ và cổ phiếu mới, tức là thời điểm phát hành, kèm theo đó là quyền lợi mà nhà đầu tư có được: cổ tức, cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu.

Bởi vì, thông thường các công ty căn cứ vào năm phát hành cổ phiếu để phân phối quyền lợi cho cổ đông. Người sở hữu cổ phiếu chỉ được hưởng lợi ích tương ứng với số tháng mà cổ phiếu đó đã phát hành. Bởi vậy bỏ tiền ra mua cổ phiếu cùng với giá mua như nhau, nhưng quyền lợi giữa cổ phiếu cũ và cổ phiếu mới là khác nhau. Nhà đầu tư cần hết sức chú ý chi tiết này.

Năm là, rủi ro trong mua bán cổ phiếu khi biến động giá. Thông thường để chắc ăn và "nắm đằng chuôi", người bán luôn yêu cầu người mua cổ phiếu phải đặt cọc tiền một tỷ lệ nào đó. Khi đó nếu giá cổ phiếu giảm, buộc người mua phải mua số cổ phiếu với giá đã cam kết, nếu không bị mất tiền đặt cọc.

Ngược lại, khi giá lên, người bán có xu hướng đánh tháo và dễ dàng đánh tháo, còn số tiền đã đặt cọc không phải lúc nào và trường hợp nào cũng lấy lại ngay được.

Sáu là, rủi ro trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền mua. Trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn, cổ đông hiện hữu, cổ đông chiến lược, hay cán bộ nhân viên công ty được quyền mua cổ phiếu.

Khi đó, nhiều người do không huy động được tiền hoặc vì nhiều lý do khác, bán quyền mua cổ phiếu của mình. Giá bán quyền mua thường thấp hơn giá thị trường OTC thời điểm đó. Nhà đầu tư mới thấy giá thấp, hấp dẫn thường chấp nhận mua.

Nhưng từ khi nộp tiền để mua cổ phiếu cho đến khi nhận được cổ phiếu là cả một khoảng thời gian khá dài, nên đến khi nhận được cổ phiếu thì cổ phiếu vẫn đứng tên chủ sở hữu là người chuyển nhượng.

Khi đó, nếu giá cổ phiếu đứng nguyên, giảm, hay gặp phải người nghiêm túc, đứng đắn, thì công việc làm thủ tục chuyển nhượng không vấn đề gì. Trong trường hợp gặp phải người không trọng chữ tín, dễ dàng bị đánh tháo và hứa hẹn trả lại số tiền trước kia đã nhận kèm với lãi suất tiền gửi ngân hàng.

Theo VNECONOMY

Trên thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu (CP) xuất phát từ nhưng mẹo do bạn bè mách bảo, các cú điện thoại của nhà môi giới hay nhưng đề xuất của một nhà phân tích nào đó. Họ thường mua CP khi thị trường đang trong giai doạn nóng bỏng, đến lúc thị trường trở lạnh, họ rất dễ hoảng loạn, bán tháo số CP nắm giữ để rồi hứng chịu một khoản thua lỗ. Đó là câu chuyện rất điển hình về những nhà đầu tư mới vào nghề.

Đầu tư chứng khoán về cơ bản là một quá trình bao gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Chọn lựa CP

Bước đầu tiên trong việc chọn lựa một CP là bắt đầu theo dõi diễn biến các CP. Đặt một CP vào danh sách theo dõi (Watch list) sẽ làm tăng sự chú ý của bạn đối với CP đó. Thật hiếm khi bạn tìm được một CP nào đó rồi mua ngay tức thì. Một danh sách quan sát là mấu chốt để lựa chọn CP thành công.

Nếu bạn theo trường phái phân tích kỹ thuật, thì khi đó diễn biến giá CP là lý do chính của việc lựa chọn một CP đó để theo dõi.

Còn nếu bạn theo trường phái phân tích cơ bản, thì tin tức về thu nhập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là lý do chính để bạn quan tâm đến CP này. Một khi CP đã nằm trong danh sách theo dõi, bạn có thể so sánh diễn tiến giá cả của CP đó với diễn tiến giá cả của các CP khác. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin khác liên quan đến CP đó nhằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định.

Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật có thể quan tâm đến việc tìm kiếm các thông tin có tính kỹ thuật về CP. Liệu CP có diễn biến giá cả giống như trong quá khứ không? Xu hướng giá CP trong 13 tuần, 26 tuần hay 52 tuần gần đây nhất là đi lên hay đi xuống? So với lúc bắt đầu được đưa vào danh sách, CP đó tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm?

Nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản sẽ tìm kiếm tin tức, các bản bảo cáo thu nhập, báo cáo ngành hay báo cáo của nhà phân tích nhằm tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, khi chọn lựa CP để theo dõi, cách tốt nhất là các nhà đầu tư nên kết hợp các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu CP đó có đáng được theo dõi hay không.

May mắn lắm bạn cũng chỉ chọn được 2 đến 3 CP tốt trong số 10 lần chọn. Bởi vậy, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy các CP giảm giá sẽ chiếm đa số trong danh sách theo dõi. Cần lưu ý rằng, chỉ nên đưa những CP tốt nhất trong danh sách theo dõi vào danh mục đầu tư của bạn.

Bước 2: Chấp nhận vị thế

Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, bạn chỉ cần liên hệ với nhà môi giới và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số điều. Trước tiên là loại giao dịch mà bạn thực hiện: đoản hay trường (short or long). Mặc dù xu hướng chung của giá CP là di lên nhưng bất kỳ ai dã từng mắc phải một vị thế thua lỗ đều có thể hiểu rằng, trong ngắn hạn CP có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên. Nhìn chung, bạn nên tránh nhưng vị thế đoản (vị thế bán non). Chúng ngốn rất nhiều thời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho vị thế đoản lại rất hiếm hoi. Nếu bạn thực hiện vị thế đoản, bạn cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế trường.

Kế đến là việc chọn lựa nhà môi giới. Nếu bạn là một nhà đầu tư tư nhân bạn có lẽ chỉ cần đến một nhà môi giới phần dịch vụ (discount broker). Đây là nhà môi giới cung cấp dịch vụ cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng.

Bước 3: Giám sát vị thế

Giám sát các vị thế đã thực hiện là phần quan trọng nhất của quá trình đầu tư. Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đưa bạn đến chỗ ra quyết định giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dõi và đánh giá quyết dịnh đầu tư của mình. Khi vị thế đó nằm ở vị trí bấp bênh giữa lỗ và lãi, bạn cần phải hết sức chú ý đến những vị thế này. Khi CP mà bạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng, đó là CP tốt thì bạn nên tính đến chuyện mua thêm CP này. Nếu CP mà bạn chọn giảm giá liên tục bạn cũng nên cân nhắc bán đi CP đó nhằm hạn chế thua lỗ.

Bước 4: Kết thúc vị thế

Nhà đầu tư thường bán CP khi giá CP đạt đến mức giá mục tiêu (target price) hay CP không diễn biến theo như mong đợi của anh ta. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư không biết bán khi nào và bán như thế nào để kết thúc một vị thế và mang lại kết quả tốt nhất. Thông thường, bạn nên bán CP khi những nhân tố cơ bản cho thấy sự sa sút đáng kể, chắng hạn như, thu nhập và lợi nhuận công ty giảm sút trong nhiều năm liền, thị phần thu hẹp dần do cạnh tranh gay gắt hay nội bộ ban giám đốc luôn lục đục...

theo Thời báo Kinh tế Việt Nam

1. Chỉ đầu tư những gì mình có.
Bạn chỉ nên đầu tư trên số tiền bạn đang sở hữu và bạn không cần nó trong một thời gian dài, ít nhất từ 3-4 tháng trở lên.

Có nhiều người nông nổi vay mượn tiền chơi chứng khoán, về mặt tâm lý thì họ đã tự đưa vào thế bất lợi, bắt buộc phải «thắng đậm» để trả lại số tiền vay mượn, trạng thái này dẫn đến những hành động thiếu thận trọng, càng thua càng muốn gỡ gạc, cay cú sát phạt lớn. Thái độ như vậy rất nguy hiểm cho người mới tập tành chơi chứng khoán.

Ở Âu Châu, các sách vở chuyên về chứng khoán khuyên nên bắt đầu mua chứng khoán ở mức 2.500€ cho mỗi cuộc mua bán, ít tiền hơn thì không có lời vì phải trả tiền giao dịch cho nhà môi giới quá nhiều. Thiết nghĩ, 2.500 Euros cũng không phải là nhiều đối với một người có công ăn việc làm. Nếu bạn sở hữu 10.000€ thì bạn nên phân chia nó ra làm 4 phần (mỗi phần 2.500€), mua 3-4 cổ phần mà bạn cho là có triển vọng nhất.

2- Chọn Broker - Nhà môi giới.
Người đầu tư cá nhân không thể mua chứng khoán thẳng ở thị trường chứng khoán mà phải qua trung gian. Trước đây, những công ty trung gian còn giới thiệu, mời chào cổ phiếu lẫn quỹ đầu tư của họ cho nên còn gọi là những nhà môi giới.

Còn hiện nay, với tình hình công nghệ truyền thông hiện đại, ai ai cũng có thể tự mình tìm những thông tin thị trường, mua bán như những người chuyên nghiệp, danh từ môi giới mất dần ý nghĩa của nó, gọi là công ty trung gian thì sát nghĩa hơn.

Các công ty trung gian hiện nay đang cạnh tranh nhau ráo riết về giá cả, dịch vụ... Dù bạn đã có ngân khoản ở một công ty trung gian trên mạng, thỉnh thoảng bạn cũng nên xem thử coi có công ty nào khác thích hợp hơn với bạn không. Không có trung gian chứng khoán nào tiện lợi cho người đầu tư cá nhân bằng các công ty trung gian trên mạng vì chi phí mua bán cổ phần rất thấp mà dịch vụ và những lợi ích của nó mang lại thì quá nhiều. Nhiều ngân hàng truyền thống phải tự mở chi nhánh trung gian trên mạng hay tìm cách mua lại những công ty trung gian độc lập vì họ bị áp lực nặng nề. Sự lựa chọn công ty trung gian này rất quan trọng, vì nó sẽ quyết định mức thành công của bạn.

Bạn nên so sánh ba điều sau đây.

- Giá cả :
Mỗi lần bạn mua hay bán cổ phiếu đều phải trả cho công ty trung gian một khoản chi phí, chi phí càng thấp chừng nào thì bạn có thể mua bán với số vốn ít chừng ấy.

Để dễ tính toán, bạn nên mua bán khi tiền chi phí chỉ tương đương hay thấp hơn 1 % tiền vốn, chẳng hạn như chi phí giao dịch của một phi vụ mua rồi bán là 20 €, thì bạn mua cổ phần hơn 2000 €. Vậy thì chỉ cần cổ phần của bạn lên hơn 1% là bạn đã có lời. Nếu bạn mua chỉ có 100 €, thì bạn chỉ lời khi cổ phần của bạn lên hơn 20%.

- Tin tức (information) biểu đồ (graph) và các cách ban lệnh (order):

Cách mua bán của bạn sẽ lệ thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ của công ty trung gian. Thông tin, phân tích cơ bản, sự dự đoán, bảng đấu giá, cách đặt lệnh, cách phân tích cơ bản, kỹ thuật v.v... càng phong phú chừng nào thì càng có lợi chừng ấy. Bạn có thể dựa trên những tin tức đó mà thiết lập nhiều chiến lược mua bán khác nhau, nhận thấy được những cơ hội mà người khác chưa thấy. Và khi một trong những chiến lược của bạn hết còn hữu hiệu thì bạn chuyển qua những chiến lược khác dễ dàng hơn.

- Sự mau chóng của những mệnh lệnh order:

Các mệnh lệnh mua bán khi qua trung gian và chuyển đến thị trường phải nhanh chóng và chính xác, thậm chí đối những đối với day trader, họ phải xem được bảng đấu giá và ban mệnh lệnh được ngay lập tức. Về cách bảo mật thì các công ty này khá an toàn vì bạn phải có password để vào ngân khoản riêng của bạn, sau đó phải có code riêng để xác nhận lệnh mua bán và cuối cùng là số tiền mà bạn thắng chỉ được chuyển đến những ngân khoản riêng mà bạn đã ấn định trước. Đừng ngần ngại tốn thời gian để chọn tìm và so sánh những công ty trung gian chung quanh bạn để dễ kiện tụng nếu có vấn đề.

3. Mua rẻ bán đắt, hay bán đắt rồi mua lại rẻ.
Công ty trung gian nào cho phép bạn mua bán với nhiều loại mệnh lệnh giới hạn (at limit) chừng nào thì bạn càng dễ vạch ra những chiến lược mua bán chừng ấy. Mua cổ phiếu ở giá rẻ và bán lại với giá cao thì ai cũng biết. Nhưng hình thức bán khống, bán trước mua sau thì ít người rành nhưng rất được giới đầu cơ dùng. Ví dụ:

Anh X đến tiệm vàng bán trước 1.000 € của thân nhân ở nước ngoài sẽ gởi về, anh lấy tiền với giá cả hiện tại 20.000 VDN/ € và, sau một tháng anh X đem 1.000 € trả sau cho tiệm vàng. Giá Euros lúc này chỉ còn 17.000 VDN/ €. Anh X lời được 3.000.000 VDN.
Bạn có thể giao kèo với công ty trung gian, bán trước những chứng khoán mà bạn nghĩ rằng nó sẽ xuống với giá hiện tại và mua lại với giá cả trong tương lai. Nếu giá cổ phần lên thì bạn lổ và cổ phần xuống thì bạn …lời.

Điều chú ý là không phải công ty trung gian nào cũng chịu mua bán khống và chỉ những công ty cổ phần có nguồn vốn thực sự dồi dào mới được chấp nhận buôn bán theo kiểu này.
Bạn nên biết phương pháp mua bán này để có một nhận thức cân bằng, không mơ ước cổ phần lên theo một chiều và có thể thắng bất kể khi thị trường lên hay xuống.

4. Dùng stop loss.
Bạn nên dùng stop loss ngay sau khi bạn mua cổ phần và giá của stop loss phải được ấn định trước khi bạn mua. Tâm trí con người tỉnh táo nhất là lúc chưa mua bán gì cả. Khi bạn đã nhập cuộc vào thị trường rồi thì bạn bắt đầu bị lạc vào “mê hồn trận”, day dứt giữa hai thái cực : sợ hãi và tham lam. Nỗi sợ hãi làm cho bạn muốn bán và lòng tham khiến bạn muốn giữ cổ phần.
Người yếu bóng vía thì phải tự vạch ra một chiến lược, mua bán một cách máy móc với phần trăm giá cả đã được quyết định trước và dù cổ phần có giao động ra sao thì vẫn phải tuân thủ tuyệt đối chiến lược của mình, không được đổi ý giữa chừng trong trạng thái tâm lý giao động.

5. Giữ cổ phần lời, bán cổ phần lỗ.
Có phần may rủi trong chứng khoán mà chúng ta không thể kiểm soát được, chúng ta phải chấp nhận như vậy. Chúng ta phải bán những cổ phần lỗ để đừng bị lỗ thêm và giữ cổ phần lời để lời thêm. Thường thường, người mua chứng khoán khi họ nghĩ rằng chứng khoán đang ở mức thấp nhất, sẽ lên trong nay mai. Nếu không may giá chứng khoán rớt xuống thêm, phản ứng tự nhiên của một người bình thường là mua thêm vì nó rẻ hơn dự đoán. Đó là một sai lầm quan trọng, có thể làm hao hụt tài sản một cách nhanh chóng.

6. Thị trường luôn luôn có lý chứ không phải là lòng tự ái của bạn.
Nhiều người nghiên cứu thị trường rồi …tự quyết định rằng thị trường đang lên hay đang xuống. Dù người đầu tư cá nhân có tiền bạc đến đâu đi chăng nữa thì cũng là những con «tép riu» so với những người đầu tư chuyên môn. Những tay market makers này có nguồn tài khoản dồi dào từ những quỹ đầu tư có thể làm mưa làm gió, nâng lên hay kéo xuống bất cứ cổ phần nào mà họ muốn. Khi họ quyết định bán cổ phần với một số lượng lớn thì bạn phải bán theo trước khi quá trễ dù cho bạn không hiểu lý do tại sao rồi có thể mua lại với giá thấp hơn. Bạn nên luôn luôn nhớ rằng thị trường luôn luôn có lý dù cho đôi lúc bạn thấy nó rất bất hợp lý.

7. Theo xu hướng.
Có ba xu hướng mà bạn phải theo dõi, một là xu hướng thị trường chứng khoán, hai là xu hướng lãnh vực liên quan và ba là xu hướng của cổ phần mà bạn đang giao dịch.

Chẳng hạn như cổ phần Renault thuộc về thị trường Euronext của Âu Châu, thuộc về lãnh vực kỹ nghệ xe hơi vừa mới thắng Formular 1 và có vị tân giám đốc Carlos Ghosn là người tài ba, ba xu hướng này đang tiến triển tốt thì cổ phần Renault sẽ lên.

Muốn biết xu hướng đang lên hay xuống thì có nhiều cách phân tích kỹ thuật, căn bản khác nhau dù không cách nào là tuyệt đối hoàn hảo. Nó rất quan trọng đến mức có thể nói biết xu hướng thị trường là biết chơi chứng khoán.

8. Rút kinh nghiệm từ thất bại của bản thân.
Trí nhớ con người có hạn, chúng ta nên ghi lại những thành công và thất bại để làm kinh nghiệm. Khi mua một cổ phần thì bạn nên ghi rõ với tối đa chi tiết như lý do tại sao mua, xu hướng thị trường, tin tức liên quan đến cổ phần, stop loss và sell limit…; khi bạn bán ra thì bạn cũng ghi rõ tới tối đa chi tiết và rút kết luận, kinh nghiệm…

Không có kinh nghiệm nào cay đắng và làm bạn nhớ lâu bằng kinh nghiệm rút từ những thất bại của bản nhân mình. Khi bạn chép ra những lý do đã làm bạn thất bại thì cũng như bạn ôn lại những tình huống đó một lần nữa.

9. Đừng chờ mong gì mà chuẩn bị đối phó với mọi tình huống.
Tôn Tử nói: Người giỏi dụng binh đánh giặc, trước tiên phải không để bại, sau mới tìm phương sách đánh bại kẻ địch. Thắng lợi có thể thấy trước («thắng khả tri») nhưng không nhất thiết đòi hỏi phải thắng cho bằng được («i nhi bất khả vi»). Không thể thắng được thì thủ, có thể thắng được thì công. Thủ là do chưa đủ điều kiện, công là khi điều kiện có thừa. Người giỏi thủ giấu quân tại các loại địa hình, người giỏi công phát huy mọi thế mạnh, bảo toàn được lực lượng mà vẫn toàn thắng («thiện thủ giả, tàng ư cửu địa chi hạ, thiện công giả, động ư cửu thiên chi thượng»). Cho nên người giỏi dụng binh bao giờ cũng đặt mình vào thế bất bại mà cũng không bỏ qua cơ hội nào để thắng địch.

Với những người mới chơi chứng khoán thì quan trọng nhất là đừng nghĩ làm gì khi thắng mà là làm gì để hạn chế sự lỗ lã. Nếu bạn không tìm được cơ hội thì cứ quan sát tiếp và đừng đem tiền mua cho bằng được một thứ gì đó rồi ân hận. Người háo thắng nên tự kiềm chế mình bằng cách không tính đến tiền thắng mà chỉ chú ý số tiền bị lỗ. Nếu không lỗ lã thì sớm muộn gì bạn cũng sẽ có lời trên thị trường chứng khoán.

Cạm bẫy T+3

|

Quy trình thanh toán chứng khoán trên sàn với công thức T + 3 - sau 3 ngày kể từ khi mua, cổ phiếu (CP - cả chứng chỉ quỹ) mới về tới tài khoản - đang trở thành cạm bẫy đối với nhiều nhà đầu tư “lướt sóng” ngắn.

Bị thua khi cổ phiếu mới về tới tài khoản:

Trong phiên giao dịch cuối tuần trước (24-8), các nhà đầu tư “lướt sóng” đã nộp 388 lệnh đặt mua 144.660 CP BMC (Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định), trong khi số chào bán chỉ có 52.080 CP, tức cầu lớn gấp 2,78 lần số cung. Giá BMC trong ngày hôm ấy tăng kịch trần (quy tròn +5%), tức tăng từ 495.000 đồng, lên 519.000 đồng/CP.

Đến phiên sau, ngày 27-8 (nghỉ thứ bảy và chủ nhật), vì sức mua thị trường tiếp tục mạnh nên giá giao dịch của BMC lên đến 544.000 đồng/CP, tăng thêm 25.000 đồng/CP. Những người mua CP BMC cuối tuần trước nghĩ rằng mình đã trúng đậm. Họ mong CP về đến tài khoản sớm để bán kiếm lời.

Nhưng trong ngày 28-8, giá CP này bất ngờ gãy đổ trước sự kinh ngạc của nhiều nhà đầu tư “lướt sóng” ngắn. Trong suốt cả 3 đợt giao dịch, giá BMC giảm liên tục, đến lúc đóng cửa chỉ còn 517.000 đồng/CP, giảm 27.000 đồng so với hôm trước.

Tính từ cuối tuần trước đến ngày này thì thời gian làm việc mới được 2 ngày (T+2), CP mua chưa về đến tài khoản nên nhà đầu tư không thể bán ra. Dù biết giá của nó đang rơi nhưng họ bất lực, không thể bán tháo để cắt lỗ.

Đến ngày 29-8, nếu giá không đổi chiều, với đà lao dốc thế này (-5%), giá BMC có thể xuống còn 492.000 đồng/CP. Như vậy, những nhà đầu tư “lướt sóng” ngắn cuối tuần trước bị thua nặng khi CP mới về tới tài khoan.

Không mua - bán một cục

Những nhà đầu tư ngắn hạn thường tạo ra “sóng” để lướt. Họ kiếm lợi nhuận ngay trong những con “sóng” này. Nhịp độ từng con “sóng” thường gắn liền với thời gian T+3. Các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm thường dự tính mua nhanh, bán nhanh, trong thời hạn T+3.

Do thị trường có rất nhiều chuyên gia cự phách, vốn lớn, nên họ đã gom CP lúc thị trường ế ẩm. Khi “gió” đổi chiều, họ có thể tạo ra “sóng” để thu hút người mua. Khi thấy số lượng mua nhiều, giá CP bị đẩy lên cao thì họ xả CP ra bán, giá CP xuống thấp. Những nhà đầu tư bị cuốn vào mua lúc giá cao, không thể bán tháo khi “sóng” lặng nên thường bị “sập” vì cạm bẫy T+3.

Trong bất cứ thời điểm nào, thị trường cũng có những con “sóng” để cho các nhà đầu tư “lướt”. Khi xu hướng tăng mạnh thì “sóng” cao, kéo dài nhiều ngày, phương thức T+3 luôn thắng. Nhưng trong giai đoạn thị trường ế ẩm, nhịp độ “sóng” rất ngắn thì phương thức T+3 không còn hiệu quả, mà phương thức T+2, T+1 tỏ ra tốt hơn.

Để thực hiện được điều này, những nhà đầu tư có kinh nghiệm thường mua vào khi thị trường ế ẩm, nhằm mục đích nắm giữ CP lâu dài. Khi thấy những con “sóng” bị đẩy lên cao, họ chỉ bán tối đa 1/3 số CP có trong tài khoản.

Rồi một hoặc hai ngày sau khi thấy “sóng” lặng (giá xuống), họ lại mua vào bù đắp số lượng CP đã bán, vì vậy chiến lược đầu tư lâu dài vẫn không bị ảnh hưởng, mà hằng ngày vẫn có tiền lời. Vì tiền chưa về, nên nhà đầu tư tạm ứng của công ty chứng khoán với lãi suất khoảng 0,04%/ngày (1,2%/tháng), 3 ngày sau khi tiền bán CP về tới tài khoản, công ty sẽ trừ nợ.

Do không mua một cục, không bán một cục, mà chỉ mua - bán một phần giá trị trong tài khoản vào bất kỳ ngày nào khi thấy giá phù hợp nên những nhà đầu tư này tránh được cạm bẫy T+3.

Xin giới thiệu một số chiến thuật kinh doanh cổ phiếu của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ, được đúc kết trong cuốn “Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time” - tạm dịch “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “The 21 Irrefutable Truths of Trading” tạm dịch “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.

Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh
Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.

Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.

Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore
Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.

Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ. Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình. Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.

Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb
Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác. Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch. Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường. Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó. Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.

Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas
Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước. Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao. Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý của công ty.

Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil
Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ. Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:

C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.

Những điểm quan trọng

Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:
- Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ” trước.
- Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.
- Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.
- Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường.
O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.
- Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.
- Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.
- Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.
- Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.
- Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.
- Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.

(vinashares.com)

Trong khi các mã blue-chips đang chững lạI thì xu hướng lên giá của nhóm cổ phiếu giá thấp (penny stocks ) đang tạo cơ hội cho nhiều nhà đầu tư.


Sau khi tham vấn một chuyên gia chứng khóa, anh Thanh Tùng, một nhà đầu tư trên sàn Agribank nhẩm tính, trên thực tế, nếu thị trường đi lên, 1 blue-chip lời được 5% thì những mã vừa và nhỏ cũng có mức lợi nhuận tối đa là 5%.

Như vậy nếu đầu tư vào nhóm cổ phiếu giá thấp 20-25.000 đồng/CP, cuối năm sẽ thu cổ tức là 2.000 – 2.500 đồng/CP xem ra còn hời hơn việc đầu tư vào loạI blue-chips giá 100.000 đồng/CP mà cũng chỉ thu được có 4.000 đồng/CP.

Không những thế, vốn đầu tư cho các cổ phiếu penny stosks cũng ít hơn so với các blue-chip SSI, FPT... “Như vậy với mong muốn có lợi nhuận, các nhà đầu tư ít vốn hoàn toàn có được mức lời hợp lý khi đầu tư vào penny stosk chứ không nhất thiết cứ chăm chăm lao vào các mã blue-chip giá cao để mong có cơ hội kiếm lời” anh Tùng hào hứng.

Theo số liệu của các sàn giao dịch, khoảng 1 tháng trở lại đây, lượng cầu đối với nhóm cổ phiếu nhỏ đã tăng lên rất cao. Hiện toàn thị trường có khoảng 50/162 mã chứng khoán có giá dưới 20.000 đồng. Nhiều phiên liên tiếp các penny stocks như: UIC, PXM, BTA DPR, ALP, VIP, HTV… điển hình trong sự tăng giá lần này. Trong các phiên giao dịch, lượng đặt mua luôn cao gấp hàng trăm lần lượng bán.

“Một số penny stock trong số 50 mã trên đang có giá trị tăng đột biến so với hồi tháng 7”, Thanh Vân, sinh viên Học viện Ngân hàng, đồng thời cũng là nhà đầu tư trên sàn Habubank cho biết.

Vân khoe đang có trong tay danh sách 20 cổ phiếu tiềm năng do công ty chứng khoán Quốc tế Việt Nam (VIS) vừa công bố.

“Không ít trong số đó là những cổ phiếu mini giá nhỉnh hơn 20.000 đồng một chút như HMC, SMC, GHA, HAP, RAL, SAS, RHC... “, nhà đầu tư trẻ nói.

Cô sinh viên chuyên ngành tài chính này quả quyết, thời điểm này đầu tư vào cổ phiếu của nhóm các công ty có giá trị thấp là phương án hợp lý vì sẽ an toàn, hứa hẹn khả năng sinh lời cao khi nền kinh tế qua cơn bĩ cực.

Các chuyên gia tài chính vẫn luôn nhắc nhà đầu tư lưu ý, phải tỉnh táo, sáng suốt sàng lọc những cổ phiếu ưu tú nhất trong nhóm penny stock để có thể đầu tư dựa trên những nhóm ngành ảnh hưởng lợi ích kinh tế vĩ mô từ nay cho đến cuối năm.

Dân 'lướt sóng' chứng khoán

|

Kiến thức tài chính cao, thần kinh “thép”, khả năng phán đoán tâm lý đám đông cực tốt, giác quan nhanh nhạy, sức khoẻ dẻo dai và công bằng, khách quan, đó là những đặc tính của dân "lướt sóng” - những nhà đầu tư mua bán chứng khoán ngắn hạn.

Trên thế giới, những nhà đầu tư ngắn hạn được gọi là các “day trader” hoặc “week trader”. Họ là những người mua bán cổ phiếu với chu kỳ rất ngắn, tính theo ngày, tuần, thậm chí có những người bằng các mẹo của mình mua bán nhỏ hơn giới hạn T+3.

Những người mua bán ngắn hạn có kiến thức cao, biết phân tích, xử lý thông tin và ra quyết định mua bán một cách chủ động, khác hẳn với những người đầu tư theo phong trào hành xử một cách thụ động, làm theo sự xúi giục hay hành vi của đối tượng khác. Có nhiều nhà đầu tư theo phong trào cũng xác định sẽ mua bán ngắn hạn, nhưng lại không biết các yếu tố cần có để trở thành đối tượng này cũng như cách thức hành xử trên thị trường.

Bản chất công việc của những nhà đầu tư ngắn hạn là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên những dao động (dù là nhỏ nhất) của giá chứng khoán trên thị trường. Trong khi những người đầu tư theo phong trào thường chỉ mua chứng khoán với hy vọng giá cả tăng 5% hay 10%/ngày để kiếm chênh lệch lớn trong thời gian ngắn. Thậm chí, có khi chỉ cần “nghe nói” giá của cổ phiếu X sẽ tăng 20%, thì những đối tượng này sẵn sàng mua vào và hy vọng sẽ lên đến mức đó.

Về tâm lý, những nhà đầu tư ngắn hạn thường có tâm lý vững vàng, trong khi những nhà đầu tư theo phong trào thì dễ dao động, khiến hy vọng lắm nhưng thất vọng cũng nhiều. Do tìm kiếm lợi nhuận từ những dao động nhỏ của thị trường, nên nhà đầu tư ngắn hạn sẵn sàng bán ra khi có lãi, do vậy giúp cho giá chứng khoán ổn định và sự luân chuyển vốn của thị trường lớn.

Nhà đầu tư theo phong trào với hy vọng giá tăng mạnh và mang lại lợi nhuận lớn, do vậy khi giá tăng mạnh, nhưng chưa đến mức kỳ vọng thì họ không bán và “chờ” lên tiếp. Đây là một trong những nguyên nhân khiến khi thị trường tăng thì tranh mua ít bán, khi xuống thì tranh nhau bán, ít người mua và thị trường nóng lạnh bất thường và không ổn định.

Những diễn biến trần - sàn ồ ạt thời gian qua phần nào cho thấy, một bộ phận rất lớn nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán là đầu tư theo phong trào. Yếu tố tâm lý đám đông phổ biến, nên có những biểu hiện của một số đối tượng tác động vào các nhà đầu tư này để thực hiện hành vi lũng đoạn thị trường.

Trái lại, nhà đầu tư ngắn hạn chuyên nghiệp luôn chủ động trước các diễn biến thị trường, nhờ các phẩm chất: Kiến thức tài chính tốt, thần kinh “thép”, khả năng phán đoán tâm lý đám đông...

Đối với những nhà đầu tư này, các cổ phiếu đều được đánh giá dựa trên khả năng lợi nhuận thu được từ các biến động giá, ít khi phân biệt blue-chips hay cổ phiếu “hạng ruồi”. Ngoài ra, trên thị trường chứng khoán Việt Nam, yếu tố may mắn, “liều lĩnh” và quan hệ rộng cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của các khoản đầu tư.

(Theo Lao Động)

Vào những năm đầu thập niên 80, tay quản lý danh mục đầu tư trẻ tuổi có cái tên Peter Lynch đã trở thành một trong những nhà đầu tư nổi tiếng nhất thế giới với thành tích thật sự đáng nể.

Bắt đầu quản lý quỹ Fidelity Magellan từ năm 1978 với tài sản khiêm tốn vỏn vẹn 20 triệu đô la nhưng đến năm 1990 khi Peter Lynch về hưu- nghĩa là chỉ 12 năm sau, tài sản của quỹ đã lên đến 14 tỷ đô la, tỷ suất sinh lợi hằng năm lên đến 29%. Đặc biệt trong suốt 12 năm điều hành Magellan, ông chưa từng có một năm thua lỗ. Quả là kỳ diệu!

Điều gì đã khiến Peter Lynch thành công đến như vậy? Thật bất ngờ khi biết thành công vĩ đại ấy lại đến từ những nguyên tắc nền tảng rất cơ bản trong việc lựa chọn cổ phiếu.

Nguyên tắc thứ nhất: Chỉ mua những cổ phiếu mà bạn hiểu rõ

Ngạc nhiên thay khi theo Lynch, công cụ nghiên cứu hữu ích nhất cho chúng ta đó chính là đôi mắt, đôi tai và các giác quan. Rất nhiều ý tưởng đầu tư cổ phiếu xuất hiện khi ông đang đi dạo quanh các cửa hàng bán rau quả hay trong lúc tán gẫu cùng bạn bè và gia đình. Ông cho rằng tất cả chúng ta đều có khả năng phân tích sơ bộ khi đang xem TV, nghe nhạc hay đọc báo. Hay ngay cả khi lái xe xuống phố, đi du lịch thì chúng ta đều có thể khám phá ra một ý tưởng đầu tư mới. Xét cho cùng, người tiêu dùng đại diện cho hơn 2 /3 tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia. Do vậy nếu điều gì đó thu hút bạn khi bạn là một người tiêu dùng thì nó cũng nên được bạn xem xét cân nhắc như một phi vụ đầu tư.

Nguyên tắc thứ hai: Luôn luôn “làm bài tập ở nhà”

Những quan sát đầu tiên luôn là bước khởi đầu tuyệt vời. Song để chúng trở thành những ý tưởng đầu tư tốt nhất thì rất cần thêm những nghiên cứu thông minh. Bạn đừng bao giờ nhầm lẫn cho rằng Lynch bảo chỉ cần những nghiên cứu đơn giản. Thực sự thì chính những nghiên cứu kỹ lưỡng và khắt khe mới là viên đá quan trọng đưa đến thành công của Lynch. Khi một ý tưởng đầu tư chợt lóe lên, ngay lập tức sau đó Lynch phải tiến hành xác định các giá trị cơ bản mà ông kỳ vọng sẽ gặp ở một cổ phiếu tốt:

* Phần trăm doanh số bán hàng: Nếu một công ty có sản phẩm hay dịch vụ hấp dẫn bạn ngay từ lần đầu tiên, hãy kiểm tra để chắc chắn rằng phần trăm doanh số bán hàng của nó đủ cao để cổ phiếu công ty ấy có ý nghĩa.

* Tỷ số PEG: chỉ số này được sử dụng để tính toán giá trị tiềm năng của một cổ phiếu. Nói rõ hơn nó cho thấy những kỳ vọng của nhà đầu tư đã được tính trong cổ phiếu như thế nào. Bạn nên tìm kiếm những công ty có mức tăng trưởng thu nhập cao và được định giá hợp lý. Hãy chú ý tỷ số PEG cần được đánh giá trong tương quan ngành và toàn bộ nền kinh tế.

* Quan tâm nhiều hơn đến những công ty có khả năng thanh khoản tốt và tỷ số nợ trên vốn cổ phần từ thấp đến trung bình: Dòng tiền mặt lớn và khả năng quản lý tài sản khôn ngoan sẽ giúp công ty có nhiều lựa chọn trong tất cả các môi trường kinh doanh

Nguyên tắc thứ ba: Chiến lược đầu tư cho dài hạn

Đối với Lynch cổ phiếu liên quan đến những dự báo cho khoảng 10 đến 20 năm. Nghĩa là ông chú trọng đến chiến lược đầu tư dài hạn. Theo ông, việc quyết định lựa chọn cổ phiếu trong tương quan 2 đến 3 năm, dự đoán khả năng tăng trưởng cao hơn hay thấp hơn của các công ty cũng giống như việc tung đồng xu xấp ngửa để quyết định vậy - đầy phiêu lưu mạo hiểm!

Có thể bạn rất khó tin vào triết lý này song những gì Lynch đã làm được, những huyền thoại nơi Wall Street đã cho thấy ông thành công đến thế nào khi đi theo triết lý của riêng mình. Lynch thật sự am hiểu về những công ty mà ông nắm giữ và lựa chọn rất cẩn thận, nếu tình hình không có gì thay đổi , ông sẽ không bán. Ông không cố gắng để tiên đoán thị trường hay chỉ ra hướng phát triển tương lai của toàn bộ nền kinh tế. Vì ông tin rằng không đáng để phải nỗ lực tin đoán sự thay đổi của thị trường trong ngắn hạn. Nếu tìm thấy một công ty đủ mạnh thì chắc chắn thu nhập của nó sẽ không ngừng tăng và dĩ nhiên cổ phiếu của nó sẽ ngày càng có giá trị.

Chỉ bằng việc giữ vững ý nghĩ tưởng chừng đơn giản ấy, Lynch đưa mục tiêu của mình nhắm vào một công việc quan trọng: đó là việc tìm kiếm những công ty tốt. Cũng từ chiến lược đầu tư dài hạn, Lynch trở thành người đầu tiên sáng tạo ra thuật ngữ ”tenbagger” –thuật ngữ mô tả loại cổ phiếu có giá trị tăng liên tục 10 lần ( tức 1000%). Ông tìm thấy những cổ phiếu này khi điều hành Magellan Fund. Nguyên tắc quan trọng số 1 là để tìm thấy một “tenbagger” là nhất thiết không được bán cổ phiếu khi nó mới chỉ tăng tới 40% hoặc thậm chí có tăng đến 100% đi chăng nữa.

Không nghi ngờ gì, khả năng lựa chọn cổ phiếu và sự thành công của ông là những bằng chứng xác thực đáng tin nhất cho thấy sự đúng đắn trong quan điểm đầu tư của Lynch. Ông đã trở thành bậc thầy không chỉ ở lĩnh vực nghiên cứu môi trường đầu tư của mình mà còn là bậc thầy trong việc hiểu thế giới trong hiện tại cũng như trong tương lai. Rất mong bằng học hỏi từ những kinh nghiệm của Lynch và bằng những quan sát của riêng mình, chúng ta sẽ học được cách đầu tư trong một “thế giới phẳng”, có được một quá trình đầu tư thú vị và có lợi nhuận.


(Theo Saga)

Bạn già hay trẻ, nam hay nữ, da đen hay da trắng, được sinh ra trong nhung lụa hay xuất thân nghèo khó... điều đó không quan trọng. Tạo hóa vốn rất công bằng, không phân biệt đối xử cũng như thiên vị ai. Điều căn bản là tự thân mỗi người tự quyết định sự thành công của mình đến đâu.

Theo Brian Tracy - tác giả cuốn sách "Thành công tột đỉnh", các nhà kinh doanh xuất chúng, những người theo thuyết vị lai dự đoán rằng nhân loại đang bước vào Thời đại Hoàng kim. Đây có lẽ là thời điểm tốt nhất để bạn đạt được thành công lớn hơn, sự tự do, niềm hạnh phúc và sự độc lập về tài chính.

"Tôi sinh ra ở Canada vào năm 1944. Bố mẹ tôi là người tốt và làm việc rất chăm chỉ nhưng chúng tôi dường như chưa bao giờ dư dả. Khi lớn lên, tôi vẫn nhớ bố mẹ tôi từng nói đi nói lại câu: “Chúng ta không thể mua nổi cái đó”. Cho dù cái đó là gì thì chúng tôi cũng không có khả năng mua được. Bố mẹ tôi từng trải qua thời kỳ Đại Suy thoái và họ chưa bao giờ thoát khỏi nỗi lo về tiền bạc", Brian Tracy viết.

Khi bước sang tuổi thiếu niên, lần đầu tiên ông nhận thức được rằng có nhiều gia đình khác sống sung túc. Họ có nhà đẹp hơn, quần áo mới và ôtô tốt. Họ không phải lo lắng quá nhiều về tiền bạc như gia đình ông, và có thể mua được nhiều thứ mà gia đình tôi thậm chí còn không dám mơ. "Chính vào lúc này, tôi bắt đầu đặt ra câu hỏi: “Tại sao có một số người lại thành công hơn những người khác?”, ông nói.

"Tôi bắt đầu băn khoăn tự hỏi tại sao có một số người kiếm được nhiều tiền, có các mối quan hệ và gia đình hạnh phúc, sống trong những ngôi nhà đẹp và nói chung là tìm được nhiều niềm vui và sự thỏa mãn trong cuộc sống hơn những người khác.

Khi câu hỏi này nảy sinh, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về nó, vì chính tôi đã lãng phí thời gian. Tôi từng bị gọi là “kẻ thất bại”. Tôi trở thành một tên ngốc ở lớp. Tôi giao du với đám trẻ xấu. Tôi luôn la hét ầm ĩ để cố gắng thu hút sự chú ý và cuối cùng, chẳng ai ưa tôi.

Người ta nói rằng mỗi người có một thế mạnh nào đó, ngay cả trong việc nêu gương xấu. Đó chính là tôi. Tôi luôn được các bậc phụ huynh và thầy cô giáo lấy làm ví dụ để cảnh cáo: “Nếu con/trò không thay đổi, con/trò sẽ có kết cục giống như Tracy”.

Khi 16 tuổi, tôi đã có phát hiện đầu tiên làm thay đổi cả cuộc đời. Một ngày, tôi bắt đầu nhận ra rằng nếu tôi muốn điều gì đó thay đổi, thì điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân tôi. Nếu tôi không thích sống trong bất hạnh, bị mọi người ghét bỏ và liên tục gặp rắc rối thì chính tôi phải làm được điều gì đó. Tôi bắt đầu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao có một số người lại thành công hơn những người khác?”

Sau khi bỏ học và làm công việc chân tay trong vài năm, tôi đã tiết kiệm được một ít tiền và đi ngao du thiên hạ.

Tôi từng đi và làm việc ở hơn 80 nước trên sáu châu lục. Tôi đã lâm vào những tình huống và trải nghiệm mà mọi người đều không thể tưởng tượng nổi. Tôi nghèo rớt mồng tơi, không có gì để ăn và vô số lần đã phải ngủ ngoài trời ở các nước xa xôi.

Tôi từng được ở khách sạn đẹp, được ăn uống tại nhà hàng sang trọng ở nhiều thành phố lớn trên thế giới. Có lúc, tôi đã là nhà quản trị cao cấp cho một công ty với số vốn lên tới 265 triệu đôla. Tôi được gặp bốn vị Tổng thống và ba Thủ tướng. Sau khi đặt ra mục tiêu được ăn tối cùng Tổng thống Mỹ, chưa đầy sáu tháng sau, tôi và vợ đã thực hiện được mục tiêu đó.

Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhìn lại, tôi đã học được rất nhiều bài học và một những bài học quan trọng nhất là "Bạn không thể đạt được mục tiêu mà bạn không nhìn thấy. Bạn không thể thực hiện được những điều tuyệt vời trong cuộc sống nếu bạn không có ý tưởng gì về chúng. Trước hết bạn phải hoàn toàn hiểu rõ bạn muốn gì, nếu bạn muốn khám phá tiềm năng phi thường bên trong con người bạn".

Tôi từng gặp và nói chuyện với nhiều người thành đạt và họ đều có một điểm chung. Họ biết chính xác mình muốn gì. Họ đều hình dung rõ ràng về cuộc sống lý tưởng và thành tích muốn đạt được. Điều này trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy họ tiến lên. Việc nhận ra mục tiêu xuất phát từ việc tập đặt ra mục tiêu ngay từ đầu.

Bạn phải quyết định xem cuộc sống của mình sẽ thế nào nếu bạn biến nó thành một kiệt tác. Dưới đây là 7 yếu tố tạo nên thành công.

Sự thanh thản trong tâm hồn: Yếu tố đầu tiên và dễ nhận thấy trong bảy yếu tố tạo nên thành công chính là sự thanh thản trong tâm hồn. Nó là điều tốt đẹp nhất của con người. Chính vì nó mà bạn phải phấn đấu để đạt được suốt cả cuộc đời. Ở những thời điểm nhất định, bạn nên đánh giá xem bạn đang làm tốt đến mức nào bằng mức độ thanh thản trong tâm hồn mà bạn có được.

Sự thanh thản trong tâm hồn chính là con quay hồi chuyển bên trong bạn. Khi bạn sống hài hòa với những giá trị cao nhất và niềm tin tuyệt đối - khi cuộc sống của bạn hoàn toàn cân bằng - bạn sẽ có được sự thanh thản trong tâm hồn. Nếu vì bất kỳ lý do nào mà bạn hạ thấp những giá trị bản thân, hay đi ngược lại sự chỉ dẫn bên trong, thì sự thanh thản trong tâm hồn là yếu tố đầu tiên bị ảnh hưởng.

Trong các công ty, sự thanh thản trong tâm hồn được đo bằng mức độ hòa hợp giữa các đồng nghiệp với nhau. Những công ty có doanh thu và lợi nhuận cao là những công ty mà ở đó mọi người đều cảm thấy bản thân tốt đẹp. Họ thấy an toàn và vui vẻ trong công việc. Họ có thể bận rộn, thậm chí bị xoay như chong chóng với công việc nhưng họ lại cảm thấy thanh thản trong lòng.

Nguyên tắc để đạt được sự thanh thản bên trong phải trở thành nguyên tắc tổ chức trung tâm trong cuộc sống của bạn. Nó phải trở thành mục tiêu cao nhất, và tất cả các mục tiêu khác chỉ là thứ yếu. Trên thực tế, bạn chỉ thành công khi bạn hạnh phúc, thỏa mãn và cảm giác khỏe mạnh, nói tóm lại, đó là sự thanh thản trong tâm hồn.

Đã có lúc, ý tưởng nhằm vào việc đạt được hạnh phúc cá nhân đã khiến tôi rất bối rối và lo lắng. Nền tảng tôn giáo của tôi khiến tôi luôn quan niệm rằng không thể quyết định hạnh phúc cá nhân bằng sự lựa chọn và hành vi.

Ngược lại, người ta nói với tôi rằng, hạnh phúc chỉ đơn thuần là kết quả phụ của việc làm cho những người khác được hạnh phúc. Nếu tôi hạnh phúc thì mọi người lại bảo rằng đó là do may mắn. Còn nếu không thì đó là do số phận của tôi. Ý nghĩ đặt hạnh phúc là mục tiêu cụ thể của bản thân bị coi là ích kỷ và thiếu lòng trắc ẩn.

Bước ngoặt quan trọng đến với tôi khi tôi học được hai điều. Thứ nhất, tôi hiểu rằng, nếu tôi không cố gắng giành hạnh phúc cho mình thì chẳng ai làm điều đó. Nếu mục tiêu trong cuộc sống của tôi chỉ là làm cho người khác hạnh phúc thì tôi sẽ chỉ luôn vui cái vui của người khác. Và tôi nhận ra rằng, việc cố gắng tổ chức cuộc sống của mình xoay quanh việc giúp người khác hạnh phúc là một việc làm chán ngắt và không bao giờ kết thúc, bởi điều đó là không thể.

Thứ hai, tôi nhận thấy tôi không thể cho đi những gì mình không có. Tôi không thể khiến ai đó hạnh phúc bằng sự khốn khổ của chính mình. Như Abraham Lincoln từng nói: “Bạn không thể giúp đỡ người nghèo bằng cách trở thành người nghèo giống như họ”. Tôi nhận ra rằng, tôi không thể làm cho người khác hạnh phúc nếu trước tiên, tôi không thể làm cho mình hạnh phúc.

Sự thanh thản trong tâm hồn là điều rất quan trọng đến nỗi nó phải trải qua quá trình phân tích khắt khe. Nó từ đâu đến? Nó tồn tại dưới những điều kiện nào? Bạn phải làm gì để đạt được nhiều hơn?

Nói một cách đơn giản nhất, bạn sẽ trải nghiệm được niềm hạnh phúc và thanh thản trong tâm hồn mỗi khi bạn hoàn toàn thoát khỏi cảm giác tiêu cực, như sợ hãi, tức giận, hoài nghi, cảm giác tội lỗi, oán giận và lo lắng. Khi không còn các cảm giác đó, tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được sự thanh thản trong tâm hồn, không cần phải cố gắng mới thấy được. Chìa khóa mở ra hạnh phúc là phải loại bỏ hay ít nhất là giảm thiểu các yếu tố gây ra cảm giác tiêu cực hay căng thẳng.

Khi bạn đặt sự thanh thản trong tâm hồn là một mục tiêu và lên kế hoạch cho mọi việc bạn làm, bạn sẽ không bao giờ mắc sai lầm. Bạn sẽ chỉ làm và nói những điều đúng đắn. Bạn sẽ cảm thấy mình thật tuyệt vời. Sự thanh thản trong tâm hồn chính là chìa khóa mở ra điều đó.

Sức khỏe và sinh lực: Nếu như sự thanh thản trong tâm hồn là trạng thái tinh thần tự nhiên và bình thường thì sức khỏe và sinh lực lại là trạng thái thể chất tự nhiên và bình thường của bạn.

Cơ thể bạn có thành kiến tự nhiên với sức khỏe. Nó có thể dễ dàng sản sinh ra rất nhiều năng lượng nếu không có sự can thiệp về mặt thể chất và tinh thần. Và sức khỏe phi thường tồn tại khi không còn bất cứ sự đau đớn, ốm đau hay bệnh tật nào. Thật tuyệt vời là cơ thể bạn được cấu tạo theo cách mà chỉ cần bạn ngừng làm những điều nhất định, thì nó sẽ tự phục hồi, trở nên khỏe mạnh và tràn đầy sinh lực.

Nếu bạn đạt được mọi thứ trong thế giới vật chất, nhưng lại bị mất sức khỏe hay sự thanh thản trong tâm hồn, thì bạn sẽ có rất ít, thậm chí là không thấy vui với những gì đạt được.

Bạn hãy tưởng tượng bạn đang có một sức khỏe tuyệt vời. Bạn hãy tưởng tượng xem bạn sẽ thế nào nếu bạn có một thân hình cân đối? Trông bạn thế nào? Bạn cảm thấy ra sao? Bạn nặng bao nhiêu? Bạn ăn loại thức ăn gì và tập loại hình thể dục nào? Bạn làm gì, nhiều hơn hay ít đi?

Các mối quan hệ tình cảm: Yếu tố thứ ba của thành công là các mối quan hệ tình cảm. Đó là mối quan hệ với những người bạn yêu thương, quan tâm và họ cũng yêu thương và quan tâm đến bạn. Họ chính là thước đo bạn là người tốt đến mức nào. Hầu hết niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh trong cuộc sống đều bắt nguồn từ mối quan hệ với người khác và chính nó giúp bạn trở thành con người đích thực.

Đặc điểm cơ bản của một người hoàn hảo là có khả năng bước vào và duy trì các mối quan hệ lâu bền với bạn bè và mối quan hệ thân tình với những người khác. Bản chất cốt lõi trong nhân cách của bạn biểu hiện thông qua cách bạn sống hòa thuận với người khác và cách họ sống với bạn.

Hầu như ở bất cứ thời điểm nào bạn cũng có thể xác định được bạn đang làm tốt đến mức nào trong các mối quan hệ của bạn bằng một phép thử đơn giản: tiếng cười. Hai người, hay một gia đình, cười với nhau bao lâu là thước đo đơn giản và chắc chắn nhất để biết mọi thứ đang diễn ra như thế nào, khi một mối quan hệ thật sự hạnh phúc, người ta cười với nhau rất nhiều khi họ ở cùng nhau. Và khi một mối quan hệ xấu đi, điều đầu tiên mất đi là nụ cười.

Điều này cũng đúng với các công ty. Các công ty làm ăn phát đạt và thu được lợi nhuận cao là nơi mà ở đó mọi người cười đùa với nhau. Họ quý mến người khác và yêu thích công việc của mình. Họ làm việc theo nhóm rất trôi chảy và vui vẻ. Họ lạc quan, cởi mở hơn với nhiều ý tưởng mới, họ sáng tạo và linh hoạt hơn.

Độc lập về tài chính: Độc lập về tài chính nghĩa là bạn có đủ tiền để không phải lúc nào cũng lo lắng về nó, như đa số mọi người vẫn thế. Tiền bạc không phải là nguồn gốc của mọi tội lỗi, mà thiếu tiền mới là nguồn gốc của mọi tội lỗi.

Hơn 80% dân số bị ám ảnh với các vấn đề về tiền bạc. Họ suy nghĩ và lo lắng về tiền khi thức dậy, khi ăn sáng và trong suốt cả ngày. Họ nói chuyện và nghĩ về tiền suốt cả buổi tối. Đây không phải là lối sống vui vẻ và lành mạnh. Nó không đưa đến những gì tốt đẹp nhất bạn có thể làm.

Tiền bạc rất quan trọng. Khi tôi đặt nó ở vị trí thứ tư trong danh sách các yếu tố của thành công, nó là yếu tố cần thiết để đạt được ba yếu tố trên. Hầu hết mọi lo lắng, căng thẳng, băn khoăn và việc mất đi sự thanh thản trong tâm hồn đều do những lo lắng về tiền bạc gây nên. Rất nhiều vấn đề về sức khỏe cũng sinh ra từ sự căng thẳng và lo lắng về tiền bạc. Nhiều vấn đề trong các mối quan hệ cũng bắt nguồn từ những lo lắng về tiền bạc, và một trong những nguyên nhân chính của các vụ ly hôn là những bất đồng xoay quanh vấn đề tiền bạc. Do vậy, chính bạn phải phát huy được năng lực và tài năng của mình tới mức độ mà bạn có thể kiếm đủ tiền để không phải lo lắng về nó.

Các lý tưởng và mục tiêu đáng giá: Yếu tố thứ năm của thành công là các lý tưởng và mục tiêu đáng giá. Theo Tiến sĩ Viktor E. Frankl, tác giả của cuốn sách Man’s Search for Meaning (Cuộc tìm kiếm ý nghĩa của loài người), sự nỗ lực sâu thẳm trong tiềm thức của bạn là nhu cầu có được ý nghĩa và mục đích trong cuộc sống. Để đạt được hạnh phúc thật sự, bạn cần có một cảm giác định hướng. Bạn cần cam kết bằng một điều gì đó lớn và quan trọng hơn bản thân bạn. Bạn cần cảm nhận rằng cuộc sống của bạn đại diện cho một điều gì đó, rằng bạn có những đóng góp quan trọng đối với thế giới của bạn bằng cách này hay cách khác.

Hạnh phúc được định nghĩa như “sự nhận thức không ngừng về một lý tưởng đáng giá”. Bạn chỉ hạnh phúc khi không ngừng làm được những việc thật sự quan trọng đối với bản thân. Hãy suy nghĩ về các kiểu hoạt động và thành tích mà bạn thích thú nhất. Trong quá khứ, khi hạnh phúc nhất, bạn đã làm gì? Loại hoạt động nào mang lại cho bạn cảm giác lớn nhất về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống?

Tự hiểu mình và tự nhận thức: Yếu tố thứ sáu của thành công là khả năng tự hiểu mình và tự nhận thức. Trong suốt lịch sử, khả năng tự hiểu mình đã song hành với hạnh phúc bên trong và thành tích bên ngoài. Cụm từ “Con người tự hiểu về mình” có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại. Để thể hiện mình tốt nhất, bạn cần phải biết mình là ai và tại sao mình lại suy nghĩ và cảm nhận theo cách đó. Bạn cần hiểu được những thế lực và ảnh hưởng đã hình thành tính cách của bạn từ khi còn nhỏ. Bạn cần biết lý do tại sao bạn lại phản ứng và hưởng ứng như vậy với con người và tình huống xung quanh bạn. Chỉ khi bạn hiểu và chấp nhận bản thân, bạn mới có thể bắt đầu tiến bộ trong các lĩnh vực khác của cuộc sống.

Hoàn thiện bản thân: Yếu tố thứ bảy của thành công là cảm giác hoàn thiện bản thân. Đây là cảm giác bạn đang trở thành con người như bạn có khả năng trở thành. Nhà tâm lý học Abraham Maslow gọi điều này là “khả năng thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình”. Ông cho rằng, nó là đặc điểm chủ yếu ở những người mạnh khỏe nhất, hạnh phúc nhất và thành đạt nhất trong xã hội của chúng ta.

Việc xác định được bảy yếu tố tạo nên thành công sẽ mang lại cho bạn một loạt các mục tiêu cần thực hiện. Khi bạn xác định cuộc sống của mình theo lý tưởng, khi bạn có đủ dũng khí để quyết định chính xác những gì bạn muốn có, đó là lúc bạn đã bắt đầu quá trình khám phá khả năng tiềm ẩn để đưa đến thành công. Ở các chương tiếp theo, bạn sẽ học được một phương pháp suy nghĩ và hành động đã được chứng minh. Bạn có thể sử dụng phương pháp này để đạt được bất cứ mục tiêu nào mà bạn đặt ra. Nhưng bước đầu tiên và quan trọng nhất là bạn phải biết bạn muốn kết thúc ở đâu.

(Trích cuốn "Thành công tột đỉnh" do Công ty Alpha Books phát hành")

1. Trước khi chọn cổ phiếu ngắn hạn nên rèn luyện tâm lí vững vàng.
Khi lựa chọn đầu tư ngắn hạn cần có đủ tố chất tâm lí vững vàng,khi cần ra tay phải ra tay ngay,nếu không sẽ làm rối loạn trạng thái tâm lí.Do thị trường chứng khoán hiện nay phân hoá nhiều xu thế,không phải cổ phiếu nào cũng lên giá,cũng không phải cổ phiếu nào cũng hạ giá.

Việc lên giá của cổ phiếu như gió thổi vào dòng nước ,chỉ cần nắm rõ phương pháp, mạnh dạn,cẩn thận, có thể nắm chắc cơ hội đàu tư ngắn hạn và nhà đầu tư sẽ thoải mái ung dung.

2. Phương pháp lựa chọn cổ phiếu khi thị trường biến động có tính đột phá. TTCK ở một số nước đang phát triển hàng năm có vài lần biến động mang tính đột phá, đứng trước tình hình biến động theo kiểu giếng phun đó phải nắm chắc cơ hội, có nghĩa là kiếm tiền.Khi xu hướng giá cả tăng sẽ có một vài loại cổ phiếu dẫn đầu xu thế tăng, nếu một số cổ phiếu chủ đề của những nhà đầu tư chính vẫn không tăng giá, tất cổ phiếu của các tổ chức tiền tệ, các công ty núp danh sẽ tăng.Biên độ tăng giá của loại cổ phiếu này rất lớn.Chọn đúng được loại cổ piếu này có có thể chạy trước được thị trường.

3. Phương pháp chọn cổ phiếu giành thế cờ ở thị trường đoạn cuối Thị trường là nơi sôi động, không chấp nhận sự yên tĩnh.Khi thị trường biến động theo hướng thuận lợi, tất thị trường đoạn cuối sẽ phát huy sức mạnh ,giá cả tăng lên,toàn cổ phiếu như có một luồng sinh khí mới. Đứng trước dịp may như vậy chỉ cần bạn dũng cảm nhảy vào , hôm sau khi giá lên cao, bạn hãy bán lượng cổ phiếu vừa mua,nói chung sẽ kiếm được lợi nhuận.

4. Phương pháp chọn cổ phiếu mới cùng loại. Trước khi cổ phiếu mới tham gia thị trường giao dịch, các nhà kinh doanh cổ phiếu thuờng nâng giá cổ phiếu cùng loại để giúp cổ phiếu mới thuận lợi trong giao dịch.Về sau các nhà đầu tư cũng đồng ý với thủ đoạn thao tác này. Vậy trước mỗi lần có cổ phiếu mới tham gia TTGD những cổ phiếu cùng loại trở thành điểm nóng trên thị trường.Trước khi cổ phiếu mới tham gia thị trường, các nhà đầu tư nhạy cảm sẽ tìm mua loại cổ phiếu có liên quan đến cổ phiếu mới, đợi cổ phiếu mới tham gia thị trường,họ bán ra sẽ có lợi nhuận.Nếu cổ phiếu mới còn tiếp tục tăng giá thì cổ phiếu cùng loại sẽ tăng theo.Tuy nhiên hiện tượng này rất ít gặp.

Trên thị trường chứng khoán ngày nay, có một thực tế là bất kỳ quy luật nào cũng có trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, vẫn có một vài nguyên tắc có tính chất “bảo đảm” mà bất cứ nhà đầu tư nào muốn thành công nên quan tâm. Chúng sẽ là công cụ giúp họ phân tích các xu hướng đầu tư dài hạn, cũng như lựa chọn được phương thức đầu tư hiệu quả nhất.

Đó chính là chín nguyên tắc sau đây:

1.Bán cổ phiếu mất giá và “tậu” cổ phiếu được giá

Thông thường sau một thời gian nếu bạn tính toán thấy khoản đầu tư của mình đã sinh lợi không nhỏ và chắc chắn những cổ phiếu này sẽ không có khả năng tăng giá nữa, thì nên bán chúng đi. Tuy nhiên có một số nhà đầu tư tiếp tục giữ lại những cổ phiếu được họ nuôi hy vọng là có khả năng phục hồi.

Nếu một nhà đầu tư không biết thời điểm nào cần “tống khứ” những cổ phiếu vô vọng thì anh ta sẽ phải nhìn thấy cảnh cổ phiếu của mình xuống giá đến mức chẳng còn giá trị gì nữa, bán cũng chẳng ai mua. Tất nhiên, ý tưởng giữ lại các khoản đầu tư “chất lượng cao”, đồng thời bán đi những cổ phiếu “chất lượng thấp” rất đúng về mặt lý thuyết, nhưng lại cực khó khi thực hiện. Và những thông tin sau đây có thể giúp bạn:

Mua cổ phiếu đang lên. Peter Lynch là người nổi tiếng với bài nói chuyện về “Làm thế nào để khoản lợi nhuận có thể tăng gấp 10 lần khoản đầu tư”, trong đó đề cập đến kinh nghiệm của chính bản thân ông.Trong bản danh mục đầu tư của ông, bạn có thể thấy các khoản lợi nhuận cực lớn mà ông kiếm được từ số vốn đầu tư cực nhỏ.

Nếu bạn đưa ra chủ trương bán ngay những cổ phiếu lên giá, thì bạn sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận tối đa. Không ai trong lịch sử đầu tư với lý thuyết “bán ngay sau khi thấy được lợi gấp ba lần số tiền đầu tư” lại có thể trở nên giàu gấp 10 lần thời điểm ban đầu. Đừng khư khư “bám” vào một nguyên tắc cá nhân cứng nhắc nào đó. Nếu bạn không thật hiểu tiềm năng các khoản đầu tư, thì các nguyên tắc cá nhân cũng chỉ mang tính tùy hứng và hạn chế mà thôi.

Bán đi những cổ phiếu mất giá. Không có gì bảo đảm rằng một cổ phiếu sẽ “bay cao” sau khi giảm giá trong một thời gian dài. Nếu trước khi đầu tư, khả năng đánh giá đâu là cổ phiếu có triển vọng là rất quan trọng, thì khi đã đầu tư một cái nhìn chuẩn xác về các khoản đầu tư hiện tại cũng đóng vai trò quan trọng không kém.

Thông thường bạn rất khó nhận ra mình sẽ thua lỗ, vì đi cùng với nó là việc “thừa nhận” mình mắc sai lầm. Vì vậy bạn phải rất thực tế và thành thật với chính mình rằng cổ phiếu đã đầu tư sẽ không mang lại hiệu quả như mong đợi. Đừng sợ điều đó ảnh hưởng đến lòng tự trọng của bạn, mà hãy tìm cách “tống khứ” nó đi trước túi tiền của bạn bị thâm hụt nhiều hơn.

Trong cả hai trường hợp, điểm cần chú ý nhất là nên đánh giá đúng tiềm năng của các công ty thông qua nghiên cứu của chính bản thân. Trong mỗi trường hợp, bạn vẫn sẽ phải tự quyết định “sự lựa chọn” đầu tư thế nào vào tương lai. Chỉ có điều, hãy nhớ đừng để nỗi sợ hãi lấn át cơ hội kiếm được nhiều lợi nhuận hoặc đừng quá tự tin vì nó rất có thể sẽ khiến bạn thâm thủng ngân quỹ nhiều hơn.

2. Đừng mua những cổ phiếu đang là chủ đề “nóng”

Bất kể anh em, họ hàng, hàng xóm hay thậm chí là chuyên gia tư vấn có nói nhiều về chủ đề của một công ty nào đó thì cũng không có gì bảo đảm rằng cổ phiếu của nó sẽ sinh ra lợi nhuận. Khi bạn đưa ra một quyết định đầu tư, bạn phải biết rõ lý do tại sao. Bạn cần phải tự mình tiến hành những nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng trước khi đầu tư một số tiền lớn mà phải rất khó nhọc bạn mới kiếm được chúng.

Nếu bạn lệ thuộc vào thông tin do người khác cung cấp, bạn sẽ rất dễ mắc phải sai lầm. Tất nhiên, đôi khi nếu gặp may, cách này cũng mang lại ít nhiều kết quả. Nhưng chắc chắn việc dựa vào nguồn thông tin này sẽ không khiến bạn trở thành người đầu tư “chuyên nghiệp”, tức là sẽ trở thành nhà đầu tư dài hạn thành công.

3. Đừng mất bình tĩnh khi cổ phiếu “rớt giá”


Trong nguyên tắc một, chúng ta đã đề cập đến tầm quan trọng của quá trình nhận biết khi nào thì khoản đầu tư sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn. Và trong trường hợp này, bạn hãy bán nó đi càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, bạn cần nhớ điều này chỉ áp dụng đối với những khoản đầu tư ngắn hạn. Còn với tư cách là nhà đầu tư dài hạn, bạn không nên toát mồ hôi khi những khoản đầu tư của bạn có lúc nào đó trở nên “chao đảo”.

Trong mỗi hoạt động đầu tư, bạn nên chú ý đến bức tranh toàn cảnh. Bạn hãy luôn tự tin vào chất lượng của các khoản đầu tư thay vì việc có những lo lắng không đâu vì những lợi ích ngắn hạn. Đồng thời, cũng đừng chỉ vì vài đồng trước mắt mà thay đổi thời gian nắm giữ cổ phần, hoặc bán cổ phiếu ngay khi thấy giá của nó đang ở mức có vẻ cao.

Nếu những thương gia năng động thường xem xét giá giá cổ phiếu theo từng ngày hay thậm chí là từng phút, thì suy nghĩ của các nhà đầu tư dài hạn lại nắm bắt thông tin từ những chuyển động của thị trường (tức là họ xem xét giá cổ phiếu trên cơ sở nhiều năm liền). Vì vậy, nếu muốn là một nhà đầu tư dài hạn, bạn hãy học cách bình tĩnh với các khoản đầu tư của mình.

4. Đừng coi trọng quá mức chỉ số P/E

Đa số các nhà đầu tư thường coi trọng quá mức chỉ số P/E. Dù nó là một công cụ chủ chốt trên thị trường chứng khoán, nhưng nếu chỉ sử dụng chỉ số này để ra quyết định mua hay bán thì rất nguy hiểm và dễ dẫn đến thua lỗ. Chỉ số P/E chỉ giúp ích cho bạn tốt nhất khi đặt nó vào trong bức tranh toàn cảnh và kết hợp với những phương pháp phân tích khác. Do vậy, một chỉ số P/E thấp không có nghĩa rằng mức độ an toàn của một cổ phiếu dưới mức trung bình, hay ngược lại.

5. Cẩn thận với sức hấp dẫn của những cổ phiếu giá rẻ (penny stocks)

Thông thường người ta hay nghĩ rằng sẽ ít bị thua lỗ hơn nếu đầu tư vào những cổ phiếu có mức giá thấp. Nhưng dù bạn mua một cổ phiếu có giá năm đô la thôi, trong khi giá trị thực của nó thấp hơn 1 đô la , thì thua lỗ vẫn cứ là thua lỗ và thậm chí bạn còn mất đi 100% số tiền đầu tư của mình. Trong thực tế, cổ phiếu giá rẻ mang tính rủi ro cao hơn cả những cổ phiếu giá cao, do cổ phiếu giá cao được giao dịch thường xuyên hơn.

6. Đặt ra chiến lược và thực hiện theo

Những người khác nhau sử dụng phương pháp khác nhau để lựa chọn cổ phiếu và đạt được các mục tiêu đầu tư. Có nhiều con đường dẫn đến thành công và không thể nói cách của ai tốt hơn.

Tuy nhiên, khi đã tìm ra hướng đi và nguyên tắc cho mình, bạn hãy trung thành với nó. Một nhà đầu tư cứ thay đổi liên tục chiến lược lựa chọn cổ phiếu sẽ không thể đầu tư hiệu quả. Nếu bạn cứ đi theo một chiến lược đầu tư vốn đã được chứng minh là hiệu quả, bạn sẽ trở thành một nhà đầu tư luôn đi trước thị trường và tránh được thất bại mà hầu hết những người khác sẽ gặp phải.

Đây cũng chính là kinh nghiệm của Warren Buffett trong thời kỳ bong bóng các công ty dot.com ở thập kỷ 90. Chiến lược đặt giá trị doanh nghiệp lên hàng đầu của Buffett đã giúp ông tránh đầu tư vào các công ty công nghệ mới thành lập (dù lúc đó đầu tư vào các công ty công nghệ đang là “mốt”). Và mặc dù bị giới truyền thông chỉ trích khá nhiều, nhưng rõ ràng chiến lược này đã được chứng minh là đúng. Buffett hầu như không ảnh hưởng gì khi “quả bong bóng” dot.com tan vỡ.

7. Luôn nhìn về tương lai

Khó khăn nhất trong việc ra quyết định đầu tư là bạn phải phán đoán được những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Điều quan trọng là bạn phải học cách phân tích những dữ liệu, biểu đồ, kết quả kinh doanh hiện tại, rồi định hướng điều gì sẽ xảy ra, và không lung lay quyết định của mình.

Peter Lynch đã miêu tả kinh nghiệm thành công của ông khi mua cổ phiếu của Subaru như thế này: “Nếu tôi luôn lo lắng tự hỏi làm thế nào để cổ phiếu mình mua có thể lên giá cao hơn, thì tôi sẽ không bao giờ mua cổ phiếu của Subaru. Nhưng khi nhìn vào cơ sở dữ liệu của công ty này, tôi nhận thấy cổ phiếu của nó hiện vẫn đang ở mức giá thấp hơn giá trị thực của nó, vì vậy tôi đã quyết định mua nó. Số tiền đầu tư vào Subaru giờ đã cho lợi nhuận gấp bảy lần”. Qua đây, bạn thấy việc đưa ra quyết định đầu tư phải dựa trên tiềm năng lợi nhuận trong tương lai, chứ không phải những gì diễn ra trong quá khứ.

8. Có tầm nhìn dài hạn

Chỉ những ai mới tham gia thị trường mới chú ý nhiều đến lợi ích ngắn hạn. Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào (dù đã tham gia thị trường lâu năm) cũng có thể có được tầm nhìn dài hạn và dễ dàng trút bỏ tâm lý “mua vào, bán ra và kiếm nhiều tiền trong thời gian ngắn”.

Những nhà đầu tư dài hạn thường chọn chiến lược “mua và giữ” (buy and hold), tức là thực hiện chiến lược mua cổ phiếu và giữ chúng trong thời gian rất lâu, bất chấp sự “chao đảo” (nếu có) của chúng trên thị trường chứng khoán.

Không thể nói việc quan tâm đến tầm nhìn dài hạn tốt hơn là quan điểm ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn, hay ngược lại, song nếu bạn là người không có kinh nghiệm, nguồn tài chính lại không dồi dào, hạn chế về khả năng phân tích và thiếu sự đào tạo bài bản, và cũng không có niềm ham mê lắm, thì tốt nhất bạn không nên là nhà đầu tư dài hạn. Đó cũng là lý do giải thích tại sao hầu hết mọi người không phù hợp với ngành nghề đầu tư dài hạn này.

9. Tạo suy nghĩ mở khi lựa chọn công ty

Các công ty lớn thường sở hữu những cổ phiếu tốt nhưng lại không phải là khoản đầu tư sinh lời nhiều. Có hàng ngàn các công ty nhỏ hiện tại nhưng đầy tiềm năng sẽ trở thành những doanh nghiệp lớn trong tương lai. Đi cùng với nó đương nhiên sẽ có rất nhiều cổ phiếu có triển vọng, thuộc hàng blue-chip (cổ phiếu có giá).

Tất nhiên, danh mục đầu tư của bạn không nhất thiết chỉ toàn những công ty có số vốn nhỏ, nhưng hãy hiểu rằng: ngoài những cái tên nổi tiếng bạn nghe thường ngày, vẫn còn những công ty ít được mọi người biết tới. Vậy thì bạn hãy quan tâm đến chúng, vì chúng có thể sẽ cho bạn lợi nhuận khổng lồ trong nay mai.

Tùy theo hoàn cảnh của mình, bạn có thể áp dụng một hoặc tất cả các nguyên tắc trên đây để tìm kiếm cơ hội thành công trong đầu tư trên thị trường chứng khoán. Hy vọng rằng những nguyên tắc này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn, đưa ra được các quyết định cẩn trọng hơn và sẽ trở thành nhà đầu tư dài hạn thành công.

Lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài khoản, những kẻ đầu cơ đã tạo ra nhiều tài khoản riêng đứng tên những người khác nhau. Khi thực hiện lệnh mua hoặc bán, họ đặt giá ở nhiều cấp độ khác nhau. Đây là cái bẫy đối với những nhà đầu tư ít kinh nghiệm.

1. Bán cổ phiếu với giá sàn

Các “đại gia” muốn mua cổ phiếu giá rẻ nên đã chủ động đem bán ào ạt với giá sàn ở một tài khoản. Những NĐT “non” rơi vào tâm lý hoang mang, lo sợ cổ phiếu mình đang nắm giữ có “vấn đề” nên vội vã bán tống bán tháo phòng rủi ro. Lúc đó, NĐT “đại gia” ung dung mua lại số cổ phiếu này bằng một tài khoản khác.

2. Đặt mua giá trần

Để bán được cổ phiếu đang có với giá cao, một số NĐT đã dùng tiểu xảo là đặt lệnh mua ào ạt với giá trần. Những NĐT mới rất dễ bị sập bẫy vì tâm lý “ăn theo” nghĩ rằng đây là tin tốt nên cũng vội vàng mua vào. Lúc này, NĐT “đại gia” dùng tài khoản khác bán dần ra cổ phiếu đó ở giá thấp với số lượng lớn hơn. Vài hôm sau “đại gia” ngừng “diễn”, giá cổ phiếu đứng và xuống khiến nhiều NĐT “chết đứng”. Tuy nhiên, đây cũng là một hiện tượng thật do tác động của thông tin thật. Vì vậy cần tỉnh táo để phân biệt đâu là thật và đâu là “bẫy”.

3. Bán chặn giá trên

Kỹ xảo này cũng nhằm mục đích mua rẻ, những “đại gia” muốn mua CP giá rẻ, sẽ bán ra số lượng CP rất lớn ở tài khoản A ngay từ đầu giờ ở giá tham chiếu chẳng hạn. Trong khi ở tài khoản B, “đại gia” này chỉ đặt mua CP với lượng vừa phải và đặt giá dưới tham chiếu. Thế là ai muốn bán phải tranh bán dưới giá tham chiếu và số CP bán dưới giá tham chiếu này sẽ dễ dàng “sa bẫy” của “đại gia”.

4. Mua chặn giá dưới

Kỹ xảo này cũng nhằm bán được giá cao. Ngay từ đầu giờ giao dịch, NĐT lớn đặt mua số lượng lớn CP ở giá tham chiếu tại tài khoản A và đặt bán số lượng nhỏ ở giá cao hơn giá tham chiếu tại tài khoản B. Thấy lượng cung ít hơn nhiều so với lượng cầu, những NĐT nhỏ lao vào đặt mua giá cao để mua bằng được sẽ bị “mắc bẫy” vì ở một tài khoản khác, NĐT lớn đã trực sẵn lệnh bán lượng lớn CP với giá cao.

Các kỹ xảo 1, 2, 3, 4 nói trên làm môi trường giao dịch CP mất đi sự lành mạnh và NĐT nhỏ là người chịu thiệt thòi nhất.

5. “Rải đinh” che giá mua thật

NĐT lớn hay nhỏ đều có thể dùng kỹ xảo này để mua được giá tốt nếu không muốn mua trần. Đặt 3 lệnh ở 3 mức giá cao nhất, mỗi lệnh chỉ mua 1 lô, ví dụ 1 lô mua tại giá 35.000 đồng, 1 lô mua giá 34.900 đồng và 1 lô mua giá 34.800 đồng. Khi đó toàn bộ các lệnh mua khác bị che khuất, vì bảng điện tử chỉ cho phép hiện 3 mức giá mua cao nhất. Phía sau những thông số giả trên bảng điện là cuộc đấu trí thú vị giữa các NĐT. NĐT nước ngoài kinh doanh trên TTCK Việt Nam cũng học được cách “rải đinh”, song họ có tiềm lực tài chính mạnh, nên thường “rải đinh” to như mua 100 lô tại giá 27.000 đồng; 100 lô tại 26.900 đồng và 100 lô tại 26.800 đồng.

6. “Rải đinh” che giá bán thật

Ngược lại với “rải đinh” mua, cách “rải đinh” bán được thực hiện như sau: NĐT đặt bán ở mức 3 giá sàn thấp nhất, ví dụ bán 1 lô giá 32.200 đồng, 1 lô giá 32.300 đồng, 1 lô 32.400 đồng, khiến các lệnh bán khác bị che lấp hoàn toàn.

Khi gặp kỹ xảo “rải đinh”, NĐT nên để ý giá khớp dự kiến. Nếu muốn mua, nên đặt trên giá khớp dự kiến 300 đồng đến 500 đồng là có thể mua được. Nếu muốn bán, nên đặt giá bán dưới giá khớp dự kiến 500 đồng đến 500 đồng là có thể bán được.

7. “Rải đinh” để khớp mua giá thấp

Khi TTCK không “nóng” thì kỹ xảo này rất có tác dụng. Kỹ xảo này có đặc điểm là không đặt mua tất cả lượng CP muốn mua ở một mức giá, mà rải ra vài mức giá. Đây là sự lợi dụng nguyên tắc so sánh các sổ lệnh để khớp lệnh ở mức giá gần nhất.

Ví dụ, bên bán có 5.000 CP bán ở giá sàn 24.900 đồng; nếu bên mua đặt 2.000 CP giá trần 27.500 đồng thì thị trường sẽ khớp giá tham chiếu 26.200 đồng. Song nếu bên mua lại đặt mua 1.500 CP giá trần 27.500 đồng; 200 CP ở giá 27.400 đồng; 200 CP ở giá 27.300 đồng và 100 CP ở giá sàn 24.900 đồng thì người mua sẽ được mua giá sàn.

8. “Rải đinh” để khớp giá bán cao

Có trường hợp CP khớp giá 33.600 đồng, nhưng vẫn còn dư mua tại giá 44.100 đồng. Trong trường hợp này, nếu người bán tinh ý thực hiện “rải đinh” ở giá bán 44.100 đồng thì CP đó sẽ chuyển sang khớp tại giá 44.100 đồng. Người bán sẽ bán được CP với giá cao hơn 500 đồng so với cách không dùng kỹ xảo. Do đó, khi muốn bán CP, nên quan sát đặt nhiều mức giá để khớp được giá tốt nhất.

Nắm được những kỹ xảo sẽ giúp NĐT hạn chế những rủi ro trong kinh doanh đồng thời có phương án kinh doanh phù hợp.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia phân tích, khi áp dụng khớp lệnh liên tục và tăng thêm màn hình nhập lệnh. Khi đó, việc khớp lệnh sẽ nhanh hơn và mảnh đất cho những kẻ “làm giá” sẽ dần bị thu hẹp.

Theo OTC.Com

ột thị trường con gấu có nghĩa là các cổ phiếu trượt giá ít nhất từ 15 đến 20%, đồng thời tâm lý bi quan bao trùm lấy khắp các sàn giao dịch. Chắc chắn rằng không một nhà đầu tư chứng khoán nào mong muốn những thời kì như vậy xảy ra.

Đừng chán nản! Vẫn còn hi vọng! Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn một vài chiến lược đầu tư quan trọng nhất nhằm tối thiểu hóa thua lỗ và thậm chí thu lời trong một thị trường như thế.

Thực tế!

Trước tiên, đầu óc thực tế luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất cần phải có được trong bất kì một cuộc suy thoái kinh tế nào. Hãy nhớ rằng việc thị trường chứng khoán có một vài năm thoái lui là điều hoàn toàn bình thường. Đó chỉ là một phần trong vòng đời kinh doanh mà thôi.

Sau một thị trường con bò (thị trường đi lên), chúng ta sẽ dễ dàng quên đi những thời kì khó khăn. Lấy những năm 1990 làm ví dụ. Đó là thời gian thị trường chứng khoán có những bước tăng trưởng thần kì. Lần lượt trong các năm 1997, 1998 và 1999, S&P 500 leo thêm 33,4%, 28,6% và 21%. Thông thường trong lịch sử, thị trường chỉ tăng trung bình 8 - 10%/năm. Sẽ là rất phi lý nếu cứ trông đợi thị trường sẽ mãi mãi đi lên với tốc độ 20%. Các đợt suy thoái lúc này lúc khác là không thể tránh được.

Nếu bạn là một nhà đầu tư dài hạn (thời gian đầu tư khoảng trên 10 năm), lựa chọn tốt nhất đơn giản là cứ mặc kệ thị trường và tiếp tục với công việc của mình như mọi khi. Với việc mua vào cổ phiếu mà không quan tâm đến giá cả, bạn có thể sẽ mua được cổ phiếu giá rẻ khi thị trường đang đi xuống. Trong dài hạn, chi phí của bạn sẽ được san phẳng dần đi, và cuối cùng bạn sẽ được lợi lớn. Ít nhất đó là lý thuyết.

Đầu tư vào đâu trong một nền kinh tế con gấu?

1. Giả chết!

Trong một thị trường con gấu, con gấu thống trị và con bò không có cơ hội ngóc đầu lên được. Có một câu danh ngôn cổ: Điều tốt nhất nên làm trong một thị trường con gấu là giả chết - đó cũng là lời khuyên trên thực tế khi bạn gặp một con gấu trong rừng. Đánh lại nó chỉ là điều cực kì nguy hiểm và rất thiếu khôn ngoan. Giữ bình tĩnh và không có bất kì một hành động bộc phát nào. Chỉ có như vậy bạn mới có thể tránh được nguy cơ trở thành bữa trưa cho chú gấu.

Giả chết theo nghĩa tài chính có nghĩa là bạn cho một phần lớn danh mục đầu tư của mình ra khỏi sân đấu. Trong một thị trường con bò, không bao giờ được để các khoản tiền nhàn rỗi ở đâu đó bởi như thế nó sẽ chẳng đem lại một nguồn lợi nhuận nào. Điều đó không đúng trong thị trường con gấu bởi tiền mặt sẽ giữ nguyên giá trị của nó (và thậm chí còn có thể sinh một khoản lời nhỏ) trong khi cổ phiếu không ngừng tụt dốc. Khi cơ hội đầu tư tốt đẹp đến, bạn có toàn quyền tự do quyết định có nên mua vào hay không. Tất nhiên, điều này có nghĩa là bạn phải tính toán được thời gian cho các quyết định của mình. Công việc này rất khó khăn, nếu như không muốn nói là hầu như không thể. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ trong một thời kì con gấu, nếu bạn rút tiền ra khỏi thị trường hơi chậm nhịp một chút thì cũng vẫn có thể là một quyết định đúng đắn. Bởi rất có thể con gấu đó sẽ tồn tại trong một thời gian dài.

2. Cổ phiếu giá trị

Các thị trường con gấu có thể đem đến cho các nhà đầu tư những cơ hội tuyệt vời. Cốt lõi là bạn phải biết được bạn đang tìm kiếm cái gì. Thảm bại, sụp đổ và định giá thấp hơn giá trị là những gì chúng ta có thể miêu tả một thị trường con gấu. Thế nhưng, đối với các nhà đầu tư giá trị, một thị trường con gấu là một cơ hội mua vào hiếm có bởi cổ phiếu của các công ty tốt bị đánh tụt xuống ngang hàng với các công ty khác và bị giam cầm ở mức định giá rất hấp dẫn. Tuy nhiên, đầu tư giá trị không phải là một nghệ thuật. Không phải tất cả các cổ phiếu trên thị trường con gấu đều là các món hời. Giai đoạn con gấu là thời kì khi các cổ phiếu có giá trị thật sự xuất hiện và chứng tỏ được mình. Warren Buffett là một ví dụ. Warren thường xây dựng được chỗ đứng của mình đối với một vài loại cổ phiếu ưa thích trong những giai đoạn không thể coi là vui vẻ bởi ông biết buồn vui thất thường là bản chất của thị trường. Và cái bản chất đó có thể sẽ không chỉ bảo vệ các công ty tốt mà đôi khi nó còn đánh vào các cổ phiếu tốt mạnh hơn các cổ phiếu khác.

3. Bán khống (Kinh doanh chứng khoán nhờ giá giảm)

Một cách tiếp cận khác đối với thị trường con gấu là áp dụng một chiến lược hùng hổ hơn nữa. Kinh doanh chứng khoán nhờ giá chứng khoán giảm (short-sale) cho phép nhà đầu tư vẫn thu được lợi nhuận gây cả khi thị trường đang đi xuống. Luôn ghi nhớ rằng khả năng một mình đi ngược lại được thị trường để thu về lợi nhuận luôn song hành với những rủi ro không nhỏ. Về mặt lý thuyết, bán khống rất có thể khiến bạn mất trắng toàn bộ số tiền đầu tư ban đầu nếu giá cổ phiếu bạn chọn đi lên.

4. Phân bổ tài sản và trái phiếu

Chiến lược phân bổ tài sản khẳng định được vị thế của mình trong suốt các thời kì thị trường chứng khoán đi xuống. Khi nền kinh tế đang bùng nổ, các nhà đầu tư có thể tự lên án mình vì không bỏ hết nguồn vốn vào chứng khoán. Thế nhưng việc làm đó sẽ là điều hoàn toàn đúng đắn trong thời kì khó khăn của nền kinh tế và trong trào lưu đi xuống của thị trường chứng khoán. Phân chia tỉ lệ nguồn vốn của bạn vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt và các loại tài sản khác chính là gốc rễ của việc đa dạng hóa đầu tư. Cách thức phân chia như thế nào phụ thuộc vào mức độ ưa thích rủi ro, các mục tiêu và thời gian đầu tư của bạn… Mỗi một nhà đầu tư có một danh mục đầu tư hoàn toàn khác biệt.

4. Cổ phiếu phòng thủ

Có những loại cổ phiếu luôn xu hướng khá ổn định và hoạt động tốt hơn thị trường vào những thời gian khó khăn. Chúng được biết đến với cái tên "Cổ phiếu phòng thủ" (Defensive Stocks), hay "Cổ phiếu phi chu kì" bởi có thể ví von chúng như những tấm lá chắn bảo vệ cho danh mục đầu tư của bạn khi thị trường chứng khoán trượt dốc. Ở đây chúng ta đang nói đến các công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mà người tiêu dùng, chính phủ và toàn bộ nền kinh tế nói chung luôn luôn cần đến, bất kì mưa nắng.

Một ví dụ điển hình là các loại sản phẩm tiêu dùng ngắn hạn trong hộ gia đình (những thứ rất nhanh bị tiêu dùng hết) như dầu gội, thuốc đánh răng, kem cạo râu…Khi nền kinh tế ngoài kia đang bùng nổ, mọi người vẫn cần phải đánh răng, gội đầu và cạo râu. Và khi nền kinh tế đang thoái lui, những điều trên vẫn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Do đó, các cổ phiếu phòng thủ đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cổ phiếu cho danh mục của mỗi nhà đầu tư.

Kết luận

Từ tất cả các lưu ý mà bài viết đã đưa ra, chúng ta có thể tóm gọn lại: Sự cẩn trọng là chìa khóa của trò chơi! Rút vốn ra ngoài cuộc đấu và đầu tư vào trái phiếu, các cổ phiếu giá trị hay các cổ phiếu phòng thủ (tùy từng điều kiện cụ thể), bạn sẽ có thể sẵn sàng và ung dung thoát ra khỏi thời kì thị trường con gấu. Luôn luôn thực tế và tránh xa hoảng loạn, lo sợ vu vơ sẽ giúp bạn bảo vệ các tài sản của mình khỏi móng vuốt của con gấu.


Lê Mai (Theo Investopedia)

Khớp lệnh liên tục: Coi chừng mua hớ, bán hớ

Monday, September 22, 2008 |

Khớp lệnh liên tục có những lệnh đặc biệt, nếu nhà đầu tư không cẩn trọng rất dễ rơi vào tình huống sập bẫy. Trong đó, lệnh MP vừa như kẻ giấu mặt rình rập, vừa như cơn lốc, càn quét tất cả những nơi nó đi qua.

Có đến 4 loại lệnh!
Từ ngày 07/5, giao dịch khớp lệnh trên sàn TP.HCM vẫn duy trì làm 3 phiên. Trong đó có 2 phiên khớp lệnh định kỳ đầu và cuối, mỗi phiên nửa tiếng đồng hồ, và phiên khớp lệnh liên tục ở giữa, kéo dài 1 giờ đồng hồ.

Hoạt động giao dịch trên sàn sẽ có 4 loại lệnh, đó là lệnh ATO, ATC, lệnh giới hạn LO và lệnh thị trường MP. Lệnh ATO đặt ở phiên 1 để xác định giá mở cửa; lệnh ATC ở phiên 3 để xác định giá đóng cửa; lệnh LO tồn tại suốt 3 phiên, và lệnh MP chỉ có duy nhất trong phiên 2 là phiên khớp lệnh liên tục.

ATO và ATC là lệnh xác định giá mở cửa và giá đóng cửa, được ưu tiên khớp lệnh trước lệnh LO. Hai lệnh này nếu không khớp được hoặc khớp 1 phần, sẽ tự hủy. Xét về tính chất, lệnh ATO và ALO không khác gì nhau, chỉ một lệnh ở phiên 1, một lệnh ở phiên 3.

Lệnh giới hạn LO tồn tại suốt 3 phiên. Một đặc điểm đáng chú ý của lệnh LO là giá khớp sẽ lấy theo giá của lệnh vào hệ thống trước, bất kể đó là lệnh bán hay mua. Vì vậy, nếu không cẩn trọng có thể bị đặt hớ, bán giá thấp hoặc mua giá cao. Ví dụ lệnh bán đặt trước với giá 98.000đ, lệnh đặt mua vào sau với giá 100.000 đồng, khớp lệnh sẽ là 98.000 đồng.

Như vậy, người bán sẽ bị thiệt bởi không dự báo sự đánh giá của thị trường đối với cổ phiếu mà mình đang nắm. Nếu một cổ phiếu đang được đánh giá cao nhưng nhà đầu tư đặt bán giá thấp, nhập lệnh sớm, sẽ có người vào sau mua theo giá mà người bán đã đặt trước đó. Hoặc nếu một cổ phiếu hiện không được đánh giá cao nhưng lỡ đặt lệnh mua cao, ngay lập tức sẽ có người sau đặt lệnh bán, và người mua phải mua với giá cao mà mình vừa đặt.

Cẩn trọng với lệnh MP!

Tuy nhiên đáng sợ, đáng chú ý nhất là lệnh thị trường MP. Nó là loại lệnh đặc biệt, mua tại mức giá bán thấp nhất hoặc bán với giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Nghĩa là với lệnh mua, MP sẽ quét từ giá thấp nhất mà lệnh LO đưa ra trong hệ thống, lên cao dần, đến khi đã đủ số nó cần mua. Hoặc với lệnh bán, MP được bán với giá mà lệnh LO đặt mua cao nhất, khi không còn bán được ở giá cao bởi lệnh LO mua cao đã được khớp hết, MP sẽ bán thấp dần đến khi nào hết số cổ phiếu đặt bán mới thôi (ở đây không bàn đến việc khớp không hết, hủy lệnh và chuyển lệnh).

Thêm một yếu tố nữa là lệnh MP không có trước trong hệ thống, mà chỉ xuất hiện khi trong hệ thống đã có lệnh giới hạn LO. Như vậy, lệnh MP như con thú rình mồi nằm phục sẵn bên ngoài, chỉ chờ lệnh giới hạn LO như con mồi xuất hiện, là nó (MP) nhảy ra và bắt đầu càn quét, “ăn” từ con mồi ngon nhất trở đi, đến kỳ no mới thôi.

Như vậy, căn cứ vào đặc điểm của lệnh MP, có thể thấy nó được dùng khi nhà đầu tư dùng để quyết tâm bán hoặc mua một cổ phiếu nào đó. Chính vì vậy, nếu không cẩn thận, kể cả người sử dụng lệnh LO lẫn MP sẽ rơi vào những trường hợp mua bán hớ.
Nếu cổ phiếu đang được đánh giá cao nhưng đặt lệnh LO bán thấp, ngay lập tức MP xuất hiện là nó sẽ khớp lệnh ngay. Tương tự, nếu cổ phiếu không được đánh giá cao nhưng lệnh LO đặt mua giá cao, lệnh MP xuất hiện bán ngay.

Lệnh MP không bao giờ xuất hiện trên màn hình. Nó như kẻ trộm rình rập, chờ lệnh LO xuất hiện là nó quét ngay. Vì vậy, người đặt lệnh LO trước không biết sẽ có lệnh MP xuất hiện hay không, nên tốt nhất hãy cân nhắc thật kỹ trước khi đưa ra giá mua hay bán. Bởi lẽ, bất cứ giá mua hay bán LO nào, lệnh MP cũng “thâu tóm” được cả.

Công việc khó khăn nhất khi quyết định mua cổ phiếu là xác định thời điểm nào giá của cổ phiếu được xem là rẻ nhất. Nhiều nhà đầu tư cho rằng, vào lúc mà giá của một cổ phiếu xuống tới mức thất nhất mà nó đã từng đạt tới trước đây, hoặc thấp hơn giá cổ phiếu của các đối thủ cạnh tranh, thì đó chính là thời điểm nên mua với số lượng lớn.

Nhưng thông thường, giá cả chỉ phản ánh một cách tương đối giá trị thật của cổ phiếu. Nếu bạn chỉ đánh giá dựa vào yếu tố này mà không đi sâu phân tích giá trị thực của chúng, thì bạn rất dễ bị rơi vào bẫyTại sao lại như vậy? Điều này đã được lịch sử thị trường chứng khoán minh chứng bằng những ví dụ như sau:

Câu chuyện về bong bóng dot-com

Hẳn nhiều người còn nhớ bong bóng dot-com ở Mỹ 7-8 năm về trước. Vào thời điểm đó, Internet phát triển như vũ bão đã khiến nhiều doanh nghiệp nhanh chân ra sức tận dụng thế mạnh của nó cho ra đời hàng loạt các công ty dựa vào Internet để tiến hành công việc kinh doanh của mình. Đó chính là các công ty dotcom. Các doanh nghiệp này cho rằng, Internet sẽ giúp họ xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, không còn phải lo đến các khâu trung gian như phân phối hoặc chi phí bán lẻ. Sự ra đời hàng loạt các công ty dotcom đã khiến cho thị trường chứng khoán Mỹ chao đảo. Tuy thị trường chứng khoán Mỹ đã rất phát triển với hệ thống các quy chế chặt chẽ còn dân Mỹ thì đã quen với thị trường này mấy trăm năm, thế mà hàng chục triệu người vẫn đổ xô vào mua cổ phiếu của các công ty dot-com khiến cho chỉ số Nasdag trong ba năm đã tăng gấp năm lần.

Nhiều công ty chưa hề tạo ra một xu lợi nhuận mà cổ phiếu vẫn được mọi người lùng mua (tức là hệ số giá cổ phiếu trên lợi tức P/E bằng vô cùng chứ không phải 70 hay 100 như một số công ty được đánh giá là có tiềm năng phát triển trong tương lai như hiện nay). Thế rồi bong bóng dot-com vỡ vào tháng 03/2000. Hàng loạt công ty dot-com phá sản, nhiều nhà đầu tư trở nên trắng tay.

Những công ty kinh doanh viễn thông và Internet có uy tín trên thị trường cũng bị vạ lây, mà điển hình là trường hợp của Hãng Nortel Networks Corp. – hãng khổng lồ viễn thông của Canada, nhà cung cấp các thiết bị viễn thông lớn thứ ba trên thế giới. Khi diễn ra cuộc khủng hoảng này, giá cổ phiếu của Nortel Network đã giảm từ 800 đô-la xuống chỉ còn 200 đô-la. Nhiều nhà đầu tư cho rằng một cổ phiếu có giá bằng 25% giá ở thời điểm cao nhất của nó, sẽ là một vụ làm ăn lớn, chắc sẽ đem lại nhiều lợi nhuận. Nhưng sự thật, họ đã lầm. Cái giá 800 đô-la/cổ phiếu của Nortel Networks thời điểm trước khủng hoảng là một cái giá vượt quá giá trị thực của nó rất nhiều lần. Và khi nó xuống còn 200 đô-la/cổ phiếu, đấy cũng chưa phải là giá trị thực của nó.

Vì vậy, khi bạn nhìn thấy giá cổ phiếu xuống thấp hơn với đỉnh điểm của nó nhiều lần, cũng đừng vội vàng đầu tư, vì rất có thể đó là sự đầu tư thiếu khôn ngoan.

Thậm chí, khi một cổ phiếu có giá trị tương đối trên thị trường bỗng nhiên sụt giá nhanh chóng, cũng chưa chắc là sự đầu tư tốt nếu như viễn cảnh của nó ảm đạm. Hãy lấy Hãng Novastar Financial - một hãng tài trợ nợ địa ốc lớn tại Mỹ làm ví dụ. Giá cổ phiếu của hãng này hiện nay dường như không đắt như cuối năm 2006. Nhưng nếu bạn phân tích thị trường thì sẽ thấy, từ đó đến nay, thị trường địa ốc ở Mỹ đang tiếp tục chịu tổn thất và sụt giảm nghiêm trọng, vì vậy vay tiền bằng cách thế chấp nhà sẽ ngày càng khó khăn khăn. Do đó, đương nhiên việc kinh doanh các món nợ thế chấp đang trong chiều hướng đi xuống, nên mặc dù giá cổ phiếu của Novastas Financial có giảm đi nhiều lần, nó rõ ràng không phải là một giá hời để bạn đầu tư.

Giá cổ phiếu hai đối thủ cạnh tranh, một cao một thấp, bạn quyết định đầu tư vào đâu?

Một trong số những sai lầm hay mắc phải là bạn cho rằng giá của một cổ phiếu là rẻ khi nó thấp hơn nhiều lần so giá cổ phiếu của các với đối thủ cạnh tranh. Trở lại thời kỳ đầu năm 2000, Nokia và Motorola là hai đối thủ kình địch trên thị trường điện thoại di động và giá cổ phiếu không chênh nhau mấy. Khi giá của một cổ phiếu của Nokia xuống thấp hơn giá một cổ phiếu của Motorola, nhiều nhà đầu tư đã quyết định đầu tư vào Nokia. Rất tiếc, ở thời điểm đó, giá của cả hai cổ phiếu này đều được nâng cao lên so với giá trị thực rất nhiều lần. Và các nhà đầu tư đã có một cái nhìn thiển cận khi mua cổ phiếu của Nokia.

Hoặc bạn có thể xem xét ví dụ xảy ra gần đây nhất của hãng truyền thông và Internet Yahoo Inc. và đối thủ cạnh tranh lớn nhất của nó là Google. Vào tháng 1/2006, Yahoo! có chỉ số P/E (hệ số giữa thị giá một cổ phiếu trên thu nhập của nó) vào khoảng trên dưới 30, trong khi chỉ số P/E của Google lớn gấp gần ba lần. Mà như chúng ta đã biết, ý nghĩa đầu tiên của chỉ số này là biểu hiện số tiền mà nhà đầu tư bỏ ra để thu được một đồng lợi nhuận từ cổ phiếu đó. P/E = 30 có nghĩa nếu nhà đầu tư bỏ ra 30 đồng thì sẽ nhận được một đồng lợi nhuận.

Như vậy, thông thường nhiều người sẽ cho rằng hiển nhiên Yahoo có giá cổ phiếu hời hơn? Nhưng thực tế, không phải như vậy. P/E thường phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng của cổ phiếu hơn là kết quả làm ăn thực của công ty. Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành; nếu chỉ số P/E của một công ty cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới nhiều hơn so với mức kỳ vọng vào các công ty khác.

Quay trở lại với ví dụ của Yahoo và Google, Google đã chứng minh sự tăng trưởng lớn mạnh của nó, khi giá cổ phiếu của nó hiện tăng hơn 10% so với giá tháng 1/2006, trong khi đó, giá cổ phiếu của Yahoo lại giảm 20%.

Như vậy, có thể thấy, khi bạn muốn trở thành một nhà đầu tư giá trị thành công, bạn phải có cái nhìn tổng thể và đầu óc phân tích thị trường sắc bén. Bạn không chỉ nhìn vào giá tương đối của cổ phiếu trên thị trường, mà cần phải đánh giá các cơ hội tăng trưởng lợi nhuận, cũng như vị trí cạnh tranh của công ty trên thị trường. Bởi vì, suy cho cùng, mục tiêu mà bạn muốn đạt được chính là sự đầu tư an toàn, không những bảo toàn được vốn, mà vốn đó phải được sinh sôi, nảy nở. Một cổ phiếu có giá quá cao so với giá trị thực của nó, mặc dù trên thực tế, nó đang giảm giá, là một sự đầu tư không mang lại lợi nhuận.

Bên cạnh đó, một vấn đề nữa mà bạn cần lưu ý là khi đánh giá chỉ số P/E để quyết định mua cổ phiếu. Tại các thị trường đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20, thì công ty đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư trông đợi trong tương lai, mức thu nhập trên một cổ phiếu của công ty sẽ tăng nhanh. Trường hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trường không đánh giá cao hoặc chưa hiểu biết nhiều về công ty đó.


Khi tất cả các cổ phiếu trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của của nó, thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây ra sự khủng hoảng thị trường như đã từng xảy ra ở các nước phát triển.