Showing posts with label Knowledge. Show all posts
Showing posts with label Knowledge. Show all posts

Tìm hiểu về chỉ số Nasdaq

Tuesday, November 4, 2008 |

Xin cho tôi biết một số thông tin về chỉ số Nasdaq của thị trường Mỹ. (Nguyễn Ngọc Quỳnh- xukxikx@yahoo.com.ca)

Trả lời:

Chỉ số Nadasq được gọi là chỉ số tổng hợp Nasdaq (the Nasdaq composite), được xây dựng trên giá cổ phiếu của toàn bộ các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nasdaq.

Nasdaq được thành lập năm 1971 bởi Hiệp hội những người buôn bán chứng khoán Quốc gia (NASD) và hiện đang được điểu hành bởi Nasdaq Stock Market, Inc. Nasdaq là sàn giao dịch chứng khoán điện tử lớn nhất nước Mỹ, với khoảng 3.200 công ty niêm yết và số lượng cổ phiếu giao dịch bình quân nhiều hơn bất kỳ sàn giao dịch khác ở Mỹ, kể cả NYSE. Có giá trị vốn hoá thị trường đứng thứ 3 thế giới (sau NYSE và Tokyo stock Exchange). Điểm khác biệt quan trọng giữa Nasdaq với các sàn giao dịch chứng khoán lớn khác là ở chỗ nó là một sàn giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC). Chỉ số Nasdaq được theo dõi nhiều nhất đối với các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ.

Bên cạnh chỉ số tổng hợp Nasdaq còn có chỉ số Nasdasq 100 và Nasdasq Financial 100 cũng là những chỉ số chứng khoán rất quan trọng. Một số mốc chính với chỉ số tổng hợp Nasdaq:

- 17/7/1995: Lần đầu tiên chỉ số tổng hợp Nasdaq đóng cửa ở mức giá trên 1.000 điểm.

-10/3/2005: Chỉ số này đạt mức giao dịch cao kỉ lục 5.132,52 điểm.

-10/10/2002: Chỉ số tổng hợp Nasdaq tụt xuống mức thấp nhất 1.108,49 điểm.

Bên cạnh Nasdaq Composite thì Nasdaq 100 và Nasdaq Financial 100 cũng là những chỉ số chứng khoán rất quan trọng. Nasdaq 100 là chỉ số chứng khoán của 100 công ty phi tài chính lớn nhất được niêm yết trên Nasdaq, cả công ty trong nước và quốc tế, còn Nasdaq Financial 100 là của các công ty tài chính.

Để được lọt vào top 100 công ty trong chỉ số Nasdaq 100, một công ty phải đạt được các số tiêu chí sau, bao gồm:

- Được niêm yết độc quyền trên Nasdaq.

- Đã niêm yết được ít nhất 2 năm( hoặc 1 năm nếu thoả mãn một số tiêu chuẩn về vốn hoá thị trường).

- Khối lượng giao dịch bình quân ngày tối thiểu là 200,000 cổ phiếu.

- Lưu hành báo cáo hàng quí và hàng năm.

- Không đứng trước nguy cơ phá sản.

Ngoài ra, nếu công ty có nhiều loại cổ phiếu thì nó chỉ được phép có 1 cổ phiếu với giá trị vốn hoá thị trường lớn nhất được tham gia vào chỉ số Nasdaq 100. Danh mục công ty nằm trong Nasdaq 100 được tái cơ cấu lại theo chu kì 1 năm hoặc sau khi xảy ra các vụ chia tách, sáp nhập các công ty trong top 100.

Trong danh sách của Nasdaq 100 được công bố 1/2/2007 có nhiều cái tên khá quen thuộc trong lĩnh vực công nghệ như: Adobe Systems Incorporated (ADBE), Amazon.com, Inc. (AMZN), Apple Inc. (AAPL), Cisco Systems, Inc. (CSCO), Dell Inc. (DELL), eBay Inc. (EBAY)…

(Câu trả lời do Công ty Cổ phần giải pháp Công nghệ và Thông tin Tài chính Sirifin cung cấp)

Tìm hiểu về Dow Jones

Monday, November 3, 2008 |

Xin cho tôi biết một số thông tin về chỉ số Dow Jones của thị trường Mỹ. (Nguyễn Ngọc Quỳnh)

Trả lời

Dow Jones là chỉ số giá chung của 65 chứng khoán đại diện, thuộc nhóm hàng đầu (blue-chip) trong các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York. Dow Jones bao hàm 3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành: Công nghiệp DJIA (Dow Jones Industrial Average), vận tải DJTA (Dow Jones Transportation Average) và dịch vụ DJUA (Dow Jones Utilities Average).

Chỉ số DJIA: là chỉ số lâu đời nhất ở Mỹ do ông Charles H.Dow, cùng với công ty mang tên ông, thu thập giá đóng cửa của chứng khoán để tính ra và công bố trên Wall Street Journal từ năm 1896. Ban đầu, công ty chỉ tính giá bình quân của 12 cổ phiếu. Ngày tính đầu tiên là 26/5/1896 với mức giá bình quân ngày này là 40,94 đôla. Năm 1916, ông mở rộng ra 20 cổ phiếu và năm 1928 tăng lên 30 cổ phiếu. Số lượng này được giữ vững cho đến ngày nay. Nhóm Top 30 này thường xuyên có sự thay đổi. Khi công ty nào sa sút đến độ không đủ tiêu chuẩn để có thể được xếp vào Top 30 của các cổ phiếu blue-chip, công ty đó lập tức sẽ bị thay thế bằng một công ty khác đang trên đà tăng trưởng. Công ty duy nhất luôn có mặt trong Top 30 kể từ buổi sơ khai của thị trường chứng khoán là General Electric.

Chỉ số DJTA: được công bố lần đầu tiên vào ngày 26/10/1896. Cho đến 2/1/1970, chỉ số này vẫn mang tên chỉ số công nghiệp đường sắt, vì trong khoảng thời gian này, ngành đường sắt phát triển rất mạnh và đường sắt chính là phương tiện vận tải chủ yếu. Chỉ số DJTA bao gồm 20 cổ phiếu của 20 công ty vận tải, đại diện cho ngành đường sắt, đường thuỷ và hàng không, được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York. Từ năm 1970 đến nay, chỉ số này trở thành một bộ phận của chỉ số DowJones. Mặc dù đã sát nhập với Dow Jones và không có mặt trên thị trường chứng khoán, nhưng một số các công ty thuộc ngành đường sắt Mỹ vẫn tính toán định kỳ chỉ số DJTA cho riêng mình nhằm đánh giá thực trạng hoạt động trong nội bộ ngành.

Chỉ số DJUA: là chỉ số ngành dịch vụ công cộng, được công bố trên Wall Street Journal từ tháng 1/1929. Chỉ số này được tính từ giá đóng cửa chứng khoán của 15 công ty lớn nhất trong ngành khí đốt và điện.

Tuy chỉ có 65 cổ phiếu nhưng khối lượng giao dịch của chúng chiếm đến hơn 3/4 khối lượng của thị trường chứng khoán New York, vì thế, chỉ số Dow Jones thường phản ánh đúng xu thế biến động giá của thị trường chứng khoán Mỹ.

Các quy định chung về giao dịch chứng khóan

Thursday, October 2, 2008 |


I. QUY ĐỊNH CHUNG:

Theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tất cả các tổ chức, cá nhân muốn tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán tập trung phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại một công ty chứng khoán.

II. THỜI GIAN GIAO DỊCH:

Các phiên giao dịch chứng khoán được mở 5 ngày một tuần từ thứ hai đến thứ sáu, trừ các ngày nghỉ lễ, tết, các ngày nghỉ khác theo luật lao động, và theo quy định của TTGDCK Tp.HCM, TTGDCK HN.

-Thời gian:

Sàn HCM: Thực hiện giao dịch khớp lệnh định kỳ, giao dịch khớp lệnh liên tục và giao dịch thoả thuận từ 8h30 đến 11h, chia làm ba đợt khớp lệnh và một đợt giao dịch thoả thuận.

oĐợt 1: 8h30 đến 9h00: Khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa

oĐợt 2: 9h00 đến 10h15: Khớp lệnh liên tục

oĐợt 3: 10h15 đến 10h30: Khớp lệnh liên tục xác định giá đóng cửa

Giao dịch thoả thuận: 10h30 đến 11h

Sàn HN thực hiện giao dịch khớp lệnh liên tục từ 8h30 – 11h.

III. ĐƠN VỊ GIAO DỊCH:

+ Với sàn HCM:

Mệnh giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư khi niêm yết được quy định thống nhất là 10.000đ, trái phiếu là 100.000đ

Đơn vị giao dịch là lô, mỗi lô là 10 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư.

Đơn vị yết giá:

- Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư:

+ Giá giao dịch dưới 49.900đ: đơn vị yết giá là 100đ.

+Giá giao dịch từ 50.000đ đến 99.500đ: đơn vị yết giá là 500đ.

+Giá giao dịch từ 100.000đ trở lên: đơn vị yết giá là 1000đ.

- Trái phiếu có đơn vị yết giá thống nhất là 100đ.

Biên độ giao động giá hiện tại là +/- 2% cho mỗi ngày giao dịch đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ

+ Với sàn HN:

Lô chẵn là 100 cổ phiếu, và đơn vị yết giá là 100 đ đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ.

Biên độ giao động giá là +/- 3% cho mỗi ngày giao dịch đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ.

IV.NGUYÊN TẮC KHỚP LỆNH:

+ Với sàn HCM:

Áp dụng nguyên tắc khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục. Giá khớp lệnh đợt 3 được lấy làm giá đóng cửa và để tính giá tham chiếu cho ngày giao dịch tiếp theo.

Trong hai đợt giao dịch giao dịch định kỳ xác định giá mở cửa và đóng của, lệnh giao dịch nhập vào hệ thống được khớp theo thứ tự ưu tiên sau đây:

- Ưu tiên về giá

- Ưu tiên về thời gian

- Ưu tiên về khối lượng

+ Với sàn HN:

Nguyên tắc khớp lệnh liên tục. Từ 9h – 11h. Giá bình quân của phiên ngày hôm nay được dùng làm giá tham chiếu cho ngày hôm sau.

V. PHÂN LOẠI GIAO DỊCH( với sàn HCM).

1. Giao dịch lô chẵn:

Áp dụng cho tất cả các giao dịch từ 1 lô đến 990 lô cho mỗi lần đặt lệnh. Đối với giao dịch lô chẵn, khách hàng có các phương thức đặt lệnh sau đây:

- Lệnh giới hạn (LO): là loại lệnh mua hoặc bán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn, mức giá đó phải nằm trong biên độ giao động giá của ngày giao dịch hiện hành. Lệnh LO có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến khi kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị huỷ bỏ.

- Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (ATO): là lệnh mua hoặc bán chứng khoán nhưng không ghi mức giá, do người đầu tư đưa ra cho người môi giới để thực hiện theo giá khớp lệnh Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa (đợt 1:8h00-9h00). Sau khi đợt 1 kết thúc, lệnh ATO sẽ tự động bị hủy bỏ nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết.

- Lệnh thị trường (MP): Là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Lệnh thị trường (MP) được ưu tiên trước lệnh giới hạn (LO) và chỉ được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh liên tục (đợt 2: 9h00-10h00).

- Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (ATC): tương tự như ATO nhưng được áp dụng trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa (đợt 3: 10h00-10h30).

Lệnh hủy

- Khách hàng không được phép hủy lệnh mua/bán đã nhập vào hệ thống trong cùng một phiên giao dịch.

- Lệnh LO không khớp hoặc một phần lệnh LO chưa được khớp ở đợt trước thì được phép đặt lệnh hủy trong các đợt khớp lệnh tiếp theo.

Lệnh sửa (chỉ dành cho giao dịch tại TTGDCK Hà Nội)

Khách hàng cần ghi rõ loại lệnh mua/bán, khối lượng, giá chứng khoán đã đặt ở lệnh gốc, số hiệu lệnh, giá sửa.

2. Giao dịch lô lớn (giao dịch thỏa thuận):

Áp dụng cho những loại giao dịch có khối lượng ≥ 20.000 đơn vị đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư trên sàn TP HCM, ≥ 5.000 đơn vị đối với cổ phiếu trên sàn Hà Nội.

3. Giao dịch lô lẻ:

Áp dụng đối với những giao dịch có khối lượng từ 1 đến 9 đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Loại giao dịch này được thực hiện trực tiếp giữa khách hàng và Công ty Chứng khoán.

B. HƯỚNG DẪN KHÁCH HÀNG GHI PHIẾU LỆNH

1.Thông tin chung:

Quý khách hàng điền đầy đủ, rõ ràng và chính xác các thông tin về:

-Ngày, tháng đặt lệnh

-Số tài khoản giao dịch chứng khoán

-Tên khách hàng, số CMND/Hộ chiếu, ngày cấp

-Người được ủy quyền, số CMND/Hộ chiếu, ngày cấp

Thông tin được ghi trong phiếu lệnh không được tẩy xoá .

Trường hợp người được ủy quyền đặt lệnh, người được ủy quyền cần điền đầy đủ thông tin về chủ tài khoản và về người được ủy quyền.

2.Nội dung lệnh:

Lệnh mua/bán:

Phần mã chứng khoán: Quý khách hàng ghi chính xác, rõ ràng mã chứng khoán đặt mua/bán vào phiếu lệnh.

Khối lượng chứng khoán: Quý khách hàng điền rõ ràng, chính xác khối lượng chứng khoán muốn đặt mua/bán.

Phần giá: 04 loại giá tương ứng với 04 loại lệnh: Lệnh giới hạn (LO), Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (ATO), Lệnh thị trường (MP) và Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (ATC).

Chú ý: Cổ phiếu lần đầu tiên niêm yết trên sàn không đặt lệnh ATO.

3.Chữ ký của khách hàng:

Phiếu lệnh chỉ hợp lệ khi có chữ ký của khách hàng hoặc người được ủy quyền( trong trường hợp chủ tài khoản ủy quyền cho người khác).

4.Một số nguyên tắc cần lưu ý:

- Khi đặt lệnh mua/bán, trong tài khoản giao dịch của khách hàng phải có tối thiểu 100% số tiền ký quỹ đặt mua hoặc 100% lượng chứng khoán đặt bán.

- Khách hàng không được phép mua và bán cùng 1 loại chứng khoán trong cùng một ngày giao dịch. Trường hợp lệnh gốc (mua/bán 1 loại chứng khoán) không khớp hoặc khớp 1 phần, trước khi đặt lệnh đối ứng (bán/mua loại chứng khoán đó) khách hàng phải đặt lệnh hủy rồi mới đặt lệnh đối ứng.

Lệnh ATO và ATC là gì?

|

Lệnh ATO (lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa) là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa. Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh.

Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ (hiện tại thời gian khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa là 8h30-9h) xác định giá mở cửa. Lệnh này sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa đối với lệnh không được thực hiện hoặc phần lệnh còn lại chưa được thực hiện.

Nhà đầu tư lưu ý, khi đặt lệnh ATO trên các phiếu lệnh tại công ty chứng khoán, không cần ghi giá cụ thể mà ghi ATO.

Ví dụ: Sổ lệnh của cổ phiếu ABC có giá tham chiếu 10.000 đồng

KL mua Giá mua Giá bán KL bán
1.500 10.000đ (3) ATO 2.000 (2)
9.900 đồng 1.000 (1)

(1),(2),(3): Thứ tự lệnh được nhập vào hệ thống

Với sổ lệnh trên, lệnh ATO dù vào sau lệnh (1) bán 1.000 cổ phiếu ABC giá 9.900 đồng, nhưng vẫn được ưu tiên khớp với lệnh mua 1.500 đơn vị ở giá 10.000 đồng. Lượng dư bán 500 đơn vị của lệnh ATO sẽ tự động bị huỷ bỏ.

Giả sử lệnh ATO trên chỉ bán với khối lượng 500 đơn vị thì bên mua sau khi khớp vẫn còn thừa 1.000 đơn vị và lúc này lệnh (1) mới được khớp. Do lệnh (1) vào hệ thống trước nên được ưu tiên giá tốt và 1.000 đơn vị sẽ được khớp với giá 10.000 đồng. Khả năng mua được hoặc bán được của lệnh ATO rất cao, nhưng mức giá có thể không có lợi.

Lệnh ATC (lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa) là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa. Lệnh ATC được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh.

Lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa (10h15-10h30). Lệnh ATC sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá đóng cửa đối với lệnh không được thực hiện hoặc phần lệnh còn lại chưa được thực hiện.

(Câu trả lời Công ty Chứng khoán VP Bank - VPBS cung cấp)

Vì sao chi cổ tức lại điều chỉnh giảm giá cổ phiếu?

Wednesday, October 1, 2008 |

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, cổ đông chỉ được nhận cổ tức khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác. Thông thường, NĐT khi mua CP đều kỳ vọng vào hai điều: hưởng cổ tức và tăng giá CP.

Theo tâm lý chung, nếu giá CP không được điều chỉnh giảm sau khi chia cổ tức thì gần ngày chia cổ tức, người đang giữ CP sẽ không muốn bán CP (vì NĐT mong đợi được nhận cổ tức); và ngay sau khi được chia cổ tức, NĐT đều muốn bán CP. Chính điều này sẽ làm phát sinh trường hợp: nhu cầu mua CP trước ngày hưởng cổ tức và nhu cầu bán CP sau ngày hưởng cổ tức sẽ tăng. Để cân bằng thị trường thì giá CP phải được điều chỉnh giảm ngay sau khi chia cổ tức. Ngoài ra, nếu NĐT quyết định mua CP sau ngày được chia cổ tức thì luôn mong muốn được mua với giá thấp hơn giá trước khi chia cổ tức (vì NĐT này đến năm sau mới được chia cổ tức). Do vậy, để đảm bảo nguyên tắc công bằng thì giá CP phải được điều chỉnh giảm và tỷ lệ điều chỉnh giảm đúng bằng tỷ lệ được nhận cổ tức. Nguyên tắc công bằng này được ghi nhận tại Điều 4 Luật Chứng khoán.

Hơn nữa, nếu chia cổ tức bằng CP thì làm tăng lượng CP đang lưu hành. Khi xảy ra trường hợp này, giá CP đương nhiên phải được điều chỉnh giảm. Vì cùng một lượng lợi tức, nhưng được chia cho nhiều CP hơn thì giá trị của mỗi CP sẽ giảm.

Do vậy, NĐT cần hiểu bản chất các nghiệp vụ này để có những đánh giá chính xác về giá trị NĐT cũng như xác định được quyền lợi của mình.

Đọc, hiểu báo cáo tài chính khó hay dễ?

Thursday, September 25, 2008 |

Nhiều nhà đầu tư cho rằng, bảng cân đối kế toán của các công ty rất khó đọc. Nếu không phải là người có kiến thức cơ bản về tài chính kế toán thì không hiểu bảng này có ý nghĩa gì. Thực sự thì đây là một trong những nguồn thông tin rất quan trọng, cho biết sức mạnh tài chính của một công ty.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đối với các công ty niêm yết, nhà đầu tư chứng khoán dễ dàng thu thập báo cáo tài chính từ rất nhiều website của các công ty chứng khoán. Việc phân tích báo cáo tài chính là một việc làm quan trọng đối với những cổ đông - người có lợi ích sát sườn đối với thu nhập và các luồng tiền của công ty bởi những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu.

Việc phân tích báo cáo tài chính là phân tích các dữ liệu nhằm đánh giá tính linh hoạt - tức khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn của công ty; khả năng sinh lời, chính là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh; khả năng thanh toán, nghĩa là khả năng thực hiện những trách nhiệm nợ dài hạn của công ty.

Phân tích các hệ số tài chính sẽ cho thấy mối quan hệ đầy đủ ý nghĩa hơn giữa các giá trị riêng lẻ trong báo cáo tài chính.

Nếu như một con số riêng lẻ trong một báo cáo tài chính không thực sự nói lên nhiều điều thì, một hệ số tài chính riêng lẻ cũng có giá trị rất thấp nếu chúng ta không xét nó trong mối tương quan với các hệ số khác.

Từ những hệ số được phân tích, chúng ta sẽ có những so sánh quan trọng nhằm xem xét kết quả hoạt động của công ty trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế; lĩnh vực ngành của công ty; các nhà cạnh tranh chủ yếu trong phạm vi ngành; kết quả hoạt động trước đây của công ty...

Trước khi đi vào phân tích các hệ số cụ thể, cần lưu ý rằng ngoài việc được coi là những công cụ phân tích có giá trị thì các hệ số tài chính, tự bản thân nó, cũng có một số hạn chế nhất định. Nó có thể cho chúng ta thấy tiềm năng phát triển cũng như điểm yếu của một công ty, nhưng những hệ số tài chính này sẽ không đưa ra những câu trả lời xác định, và nó cũng không đưa ra các dự đoán.

Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của công ty trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Khả năng thanh toán thường được phân tích bằng việc tính toán các hệ số sau:

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời

Hệ số này thường được sử dụng để xem xét khả năng thanh toán nợ đến hạn thanh toán của công ty.

Ở đây, nợ ngắn hạn được sử dụng làm mẫu số bởi vì chúng là những khoản nợ cần phải được thanh toán gấp trong vòng một năm. Các nguồn tiền mặt sẵn có nhằm đáp ứng những nghĩa vụ này phải được trích chủ yếu từ nguồn tiền của công ty hoặc tiền được chuyển đổi từ các tài sản ngắn hạn khác.

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn.

Để làm sáng tỏ tầm quan trọng của hệ số này, cần phải đánh giá khả năng thanh toán trong một giai đoạn dài và cần phải so sánh với mức trung bình của ngành, đồng thời cũng rất cần phải xem xét các yếu tố cấu thành hệ số này.

Cần ghi nhớ rằng, bảng cân đối kế toán được lập vào một ngày xác định, và số lượng tài sản lưu động có thể thay đổi đáng kể tại thời điểm phân tích so với thời điểm được ghi trên bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, tài khoản các khoản phải thu và hàng tồn kho có thể không thực sự có khả năng thanh toán.

Ví dụ, một công ty nào đó có thể có hệ số khả năng thanh toán hiện thời tương đối cao nhưng chưa chắc công ty đó đã đáp ứng được các yêu cầu về tiền bởi vì tài khoản các khoản phải thu thường thuộc dạng có tính thanh khoản thấp, hay tài khoản hàng trong kho chỉ có thể bán được bằng cách giảm giá.

Do vậy, chúng ta cần xem xét các yếu tố khác, các biện pháp tính toán để xác định khả năng thanh toán của từng nhóm tài sản cụ thể.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số này còn gọi là hệ số thử axit, là cách tính khả năng thanh toán nợ ngắn hạn chính xác hơn so với hệ số khả năng thanh toán hiện thời bởi vì tử số đã bị loại bỏ bớt khoản mục hàng tồn kho. Tuy nhiên, hệ số này cũng cần được xem xét trong mối tương quan với chiều hướng phát triển của chính công ty và của các công ty khác trong ngành.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động- hàng trong kho/Nợ ngắn hạn.

Hệ số tài sản tiền tệ

Hệ số này sẽ xem xét dòng tiền phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tử số của hệ số này chính là tổng tất cả các nguồn tiền bao gồm tiền sẵn có, các chứng khoán khả mại và luồng tiền phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Giá cổ phiếu của một công ty được quyết định bởi nhiều yếu tố và một báo cáo tài chính “đẹp” cũng góp phần để đẩy giá cao thêm.

Hiện nay bên cạnh 120 loại cổ phiếu, trái phiếu của các công ty được niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán chính thức, thì có một khối lượng khá lớn các loại cổ phiếu khác được giao dịch trên thị trường phi tập trung - OTC.

Cho đến nay chưa có con số chính thức và cũng rất khó có được con số chính xác về tổng trị giá cổ phiếu đang giao dịch OTC, nhưng ước tính tổng doanh số giao dịch cổ phiếu trên thị trường OTC còn lớn hơn cả thị trường chính thức, lên tới cả chục ngàn tỷ đồng.

Bởi vì, trên thị trường OTC các loại cổ phiếu đang giao dịch phần lớn là của các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, nhà máy điện..., những công ty không những có quy mô vốn điều lệ lớn, tổng giá trị cổ phiếu đang giao dịch cao, mà còn thường xuyên phải tăng vốn điều lệ theo chiến lược kinh doanh của mình.

Tuy nhiên, người đầu tư trên thị trường này nên chú ý đến những dạng rủi ro sau đây.

Một là, tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu mới tăng vốn. Một trong những kỳ vọng lớn nhất về lợi ích của người mua cổ phiếu là quyền mua cổ phiếu phát hành tăng vốn. Đây là một khoản thu nhập, một khoản lợi lớn của người sở hữu cổ phiếu. Nhiều loại cổ phiếu giá giao dịch trên thị trường OTC cao gấp 8 lần đến 10 lần, thậm chí 12 - 14 lần mệnh giá gốc.

Tuy nhiên, thông thường trước khi phát hành cổ phiếu tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ đông. Tại thời điểm đó, những ai sở hữu cổ phiếu nằm trong danh sách cổ đông của HĐQT sẽ được mua thêm cổ phiếu mới theo tỷ lệ được ấn định dựa trên số cổ phiếu đang sở hữu.

Với những nhà đầu tư mới, người mua cổ phiếu mới trong giai đoạn giao thời, hoặc khi danh sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết, tiền đã thanh toán cho người chuyển nhượng, mặc dù cổ phiếu mình đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ tục chuyển nhượng, nên mất quyền mua. Quyền mua cổ phiếu mới vẫn thuộc về người chuyển nhượng, trong khi người chuyển nhượng đã bán cổ phiếu của mình đi rồi theo giá thị trường tại thời điểm đó.

Như vậy, các nhà đầu tư mới cổ phiếu trên thị trường OTC cần chú ý luôn luôn thỏa thuận bằng giấy, bằng hợp đồng chuyển nhượng với người chuyển nhượng cổ phiếu, ghi rõ ràng quyền lợi mua cổ phiếu mới tăng vốn thuộc về ai. Loại rủi ro nói là phổ biến nhất trên thị trường OTC trong thời gian qua.

Hai là, tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức. Cổ tức của công ty được chia cho cổ đông dựa trên số lượng cổ phần cổ đông đang nắm giữ. Rủi ro là ở chỗ, khi mua cổ phiếu, người được chuyển nhượng không nắm bắt được thông tin, không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng chuyển nhượng. Do đó người mua mặc dù nắm giữ cổ phiếu đúng tên mình rồi, nhưng không nhận được cổ tức.

Nhà đầu tư L.V.B tại Hà Nội, trong giao dịch mua bán cổ phiếu của Techcombank với một người khác là V.T.H, cán bộ một ngân hàng thời điểm đầu năm 2006, đã xẩy ra tranh chấp quyền lợi về quyền chia cổ tức trị giá hàng trăm triệu đồng, đang phải nhờ đến cơ quan quản lý can thiệp và dự kiến phải đưa ra cơ quan bảo vệ pháp luật để phân xử.

Ba là, rủi ro trong mua bán cổ phiếu chưa được chuyển nhượng. Có cổ phiếu theo quy định nội bộ công ty sau 1 năm mới được chuyển nhượng, nhưng nhiều nhà đầu tư không nắm được thông tin, mua loại cổ phiếu đó.

Và trong thời hạn 1 năm chưa làm được thủ tục chuyển nhượng, thì các quyền lợi về quyền mua thêm cổ phiếu tăng vốn, chia cổ tức..., vẫn thuộc về người đứng tên sở hữu cổ phiếu, còn người đã bỏ tiền ra mua, đang nắm giữ cổ phiếu thì bị chiếm đoạt mất quyền lợi.

Thực tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần E, có trụ sở chính tại Tp.HCM, thời gian qua đã xẩy ra khá nhiều tranh chấp quyền lợi này. Nhiều người đang nhờ đến sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng.

Bốn là, rủi ro trong mua bán cổ phiếu ở thời điểm phát hành. Loại cổ phiếu này trong giới mua bán trên thị trường OTC còn gọi là cổ phiếu cũ và cổ phiếu mới, tức là thời điểm phát hành, kèm theo đó là quyền lợi mà nhà đầu tư có được: cổ tức, cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu.

Bởi vì, thông thường các công ty căn cứ vào năm phát hành cổ phiếu để phân phối quyền lợi cho cổ đông. Người sở hữu cổ phiếu chỉ được hưởng lợi ích tương ứng với số tháng mà cổ phiếu đó đã phát hành. Bởi vậy bỏ tiền ra mua cổ phiếu cùng với giá mua như nhau, nhưng quyền lợi giữa cổ phiếu cũ và cổ phiếu mới là khác nhau. Nhà đầu tư cần hết sức chú ý chi tiết này.

Năm là, rủi ro trong mua bán cổ phiếu khi biến động giá. Thông thường để chắc ăn và "nắm đằng chuôi", người bán luôn yêu cầu người mua cổ phiếu phải đặt cọc tiền một tỷ lệ nào đó. Khi đó nếu giá cổ phiếu giảm, buộc người mua phải mua số cổ phiếu với giá đã cam kết, nếu không bị mất tiền đặt cọc.

Ngược lại, khi giá lên, người bán có xu hướng đánh tháo và dễ dàng đánh tháo, còn số tiền đã đặt cọc không phải lúc nào và trường hợp nào cũng lấy lại ngay được.

Sáu là, rủi ro trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền mua. Trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn, cổ đông hiện hữu, cổ đông chiến lược, hay cán bộ nhân viên công ty được quyền mua cổ phiếu.

Khi đó, nhiều người do không huy động được tiền hoặc vì nhiều lý do khác, bán quyền mua cổ phiếu của mình. Giá bán quyền mua thường thấp hơn giá thị trường OTC thời điểm đó. Nhà đầu tư mới thấy giá thấp, hấp dẫn thường chấp nhận mua.

Nhưng từ khi nộp tiền để mua cổ phiếu cho đến khi nhận được cổ phiếu là cả một khoảng thời gian khá dài, nên đến khi nhận được cổ phiếu thì cổ phiếu vẫn đứng tên chủ sở hữu là người chuyển nhượng.

Khi đó, nếu giá cổ phiếu đứng nguyên, giảm, hay gặp phải người nghiêm túc, đứng đắn, thì công việc làm thủ tục chuyển nhượng không vấn đề gì. Trong trường hợp gặp phải người không trọng chữ tín, dễ dàng bị đánh tháo và hứa hẹn trả lại số tiền trước kia đã nhận kèm với lãi suất tiền gửi ngân hàng.

Theo VNECONOMY

Investor's Business Daily (IBD) là tờ nhật báo của một tổ chức tư vấn và đầu tư uy tín trên thị thị trường chứng khoán quốc tế. Dưới đây là một số gợi ý đánh giá cổ phiếu tốt mà IBD đưa ra.


Chỉ tiêu lợi nhuận

Thu nhập dòng hay lợi nhuận sau thuế có thể được xem xét bằng tổng lợi nhuận hay xét trên một đơn vị cổ phiếu (EPS). Một công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập khi tốc độ tăng trưởng thu nhập của quý sau cao hơn quý trước.

Một cổ phiếu tốt có tốc độ gia tăng về tăng trưởng thu nhập cao hơn so với 3 hay 4 quý trước liền kề. Tăng trưởng của chỉ số thu nhập ít nhất là 25% so với cùng quý của năm trước. EPS hàng năm của cổ phiếu tốt ít nhất phải tăng trưởng 25% so với 3 năm trước đó.

Theo cách nghĩ thông thường thì nên chọn mua những cổ phiếu có P/E thấp (P/E: Chỉ số giá chia cho thu nhập của mỗi cổ phiếu), và cho rằng những cổ phiếu có chỉ số này cao là đắt và không nên mua.

Thực tế cho thấy, những cổ phiếu tốt nhất thường có chỉ số này cao. Nên chọn cổ phiếu của những công ty thua lỗ trước khi công ty đó trở lại trạng thái có lãi khi các nhà đầu tư khác phát hiện ra nó.

Một số tiêu chí chọn lựa cổ phiếu căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận bao gồm: Dựa vào thực hiện thu nhập quan trọng hơn thu nhập dự kiến; lựa chọn những công ty có tốc độ tăng trưởng thu nhập ít nhất 25% ở quý gần nhất; lựa chọn công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập ở 3 hay 4 quý gần nhất; lựa chọn công ty có thu nhập hàng năm tăng trưởng ít nhất 25% so với mỗi năm của 3 năm trước.

Lượng hàng bán (doanh thu)

Lượng hàng bán là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường một công ty có sức mạnh hay không và là nhân tố chính của tăng trưởng. Khi chọn lựa cổ phiếu tốt hãy tìm công ty có tốc độ bán hàng mạnh để làm tiền đề cho tăng trưởng thu nhập.

Một số biểu hiện có thể xem xét khi một công ty gia tăng lượng hàng bán như nhiều khách hàng hơn, khách hàng tăng lượng mua, công ty giới thiệu sản phẩm mới hoặc thâm nhập vào thị trường mới, công ty cải thiện sản phẩm cũ.

Tiêu chí để xác định công ty có tăng trưởng bán hàng tốt nếu 3 quý gần nhất có sự tăng lượng hàng bán lớn hơn hoặc bằng 25% so với quý gần nhất trước đó.

Cần xem xét kỹ chỉ tiêu doanh thu vì đôi khi lượng hàng bán vẫn ẩn chứa những vấn đề. công ty có thể quá phụ thuộc vào một số khách hàng, phụ thuộc quá nhiều vào một số mặt hàng hay quá phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu.

Với những nhà bán lẻ, nếu mở thêm một cửa hàng mới cũng làm tăng thêm lượng hàng bán ngay cả khi lượng hàng bán ở những cửa hàng cũ đang xấu đi.

Cũng cần lưu ý đến việc công ty thêm vào lượng hàng bán được mà thực tế nó chưa xảy ra, hay các đơn đặt hàng mà không được chuyển đi hay chưa thu được tiền bán đã được hạch toán làm gia tăng lượng hàng bán.

Chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu

Lợi nhuận dòng đánh giá tỉ lệ chuyển doanh thu thành thu nhập. Trên quan điểm của nhà đầu tư, nên tìm những công ty có sự tăng về tỉ lệ lợi nhuận dòng/doanh thu. Con số này càng lớn thì công ty có sự tốt lên về quản lý và có sự tốt lên trong các hoạt động.

Lợi nhuận dòng có thể là đầu mối chủ yếu tìm cổ phiếu để mua và nên so sánh chỉ số này giữa các công ty có ngành nghề tương đồng. Tiêu chí để xác định cho chỉ tiêu này là lợi nhuận trước thuế ít nhất đạt 18% doanh thu. Yêu cầu lợi nhuận sau thuế luôn đạt 10% trở lên.

Tuy nhiên, cũng cần phải xét cả những chỉ tiêu cơ bản khác như tăng truởng thu nhập. Mức tăng về lợi nhuận dòng sẽ ít đi nếu doanh thu giảm, ngoại trừ có sự thay đổi về chiến lược của công ty khi cắt giảm những dây chuyền sản xuất không hiệu quả. Nếu lợi nhuận có xu hướng giảm, đó có thể là tín hiệu cho thấy công ty đang đánh mất lợi thế cạnh tranh.

Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Đây là chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá sự hiệu quả của hoạt động tài chính đóng góp cho sự phát triển của công ty. ROE cho biết công ty sử dụng tiền của cổ đông có tốt hay không. Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng lợi nhuận và quản lý hiệu quả.

Nói chung, nên tránh những công ty có chỉ số này nhỏ hơn 17%. Hầu hết mọi ngành, chỉ số này của những công ty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến 30%, cá biệt có những công ty đạt trên 40%. Chỉ số này có xu hướng cao lên theo thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới đã cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất.

(Theo Lao Động)

I. Phân tích nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán

1. Môi trường chính sách và pháp luật
v Hệ thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân TTCK và hoạt động của
các doanh nghiệp. Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác động tốt
hoặc xấu tới TTCK, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm.
v Môi trường chính trị – xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động
của TTCK. Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt
động chính trị, sửa đổi chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK.
v Môi trường pháp luật là yếu tố quan trọng tác động tới TTCK.
Do vậy môi trường pháp lý cần đuợc xem xét trên các góc độ:
§ Hệ thống hành lang pháp lý của TTCK được xây dựng như thế nào, có đủ bảo
vệ quyền lợi chính đáng của người đầu tư hay không?
§ Những mặt khuyến khích, ưu đãi, hạn chế được quy định trong hệ thống pháp
luật.
§ Sự ổn định của hệ thống luật pháp, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng
đến TTCK.

2. Các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô
Có 3 nhân tố vĩ mô cơ bản nhất tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư trên
TTCK:
v Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi
trường tài chính và chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở
nước ngoài.
v Lạm phát: là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và
tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó
khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới
doanh nghiệp.
v Lãi suất: Lãi suất Trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay
đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán,
khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm
xuống, ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng
lên.
Khi nền kinh tế phát triển tốt thì TTCK có xu hướng đi lên và ngược lại khi kinh tế
giảm sút thì TTCK đi xuống. Như vậy, nếu dự đoán được xu hướng phát triển của
nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK. Vì vậy, các
nhà đầu tư cần phải cố gắng dự đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm
của chu kỳ kinh tế và chọn thời cơ để tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường chứng
khoán một cách hợp lý nhất.

II. Phân tích ngành

Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm, hoá chất,
công nghệ thông tin, cơ khí, dịch vụ tài chính….Trong quá trình phân tích cần
xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý. Vì
vậy, ngoài việc nghiên cứu chính bản thân ngành đó, còn phải nghiên cứu các
vấn đến có ảnh hưởng lớn đến các ngành sản xuất như: chính sách xuất,
nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, các quy định về thuế của Chính phủ đối với
một ngành cụ thể nào đó.
v Trước khi phân tích từng loại chứng khoán riêng lẻ, bạn cần phải phân tích
hoạt động toàn ngành trước những vấn đề:
§ Lợi nhuận và khả năng tăng trưởng của ngành đó.
§ Cần theo dõi động thái hoạt động ngành để tìm cơ hội đầu tư và rút vốn đúng
lúc.
§ Vào cùng một thời điểm các ngành khác nhau sẽ có mức rủi ro khác nhau, do
đó cần đánh giá mức độ rủi ro của từng ngành để xác định mức lợi suất đầu tư
tương xứng cần phải có.
§ Phân tích mức rủi ro từng ngành trong quá khứ để dự đoán rủi ro trong tương
lai.


III. Phân tích tài chính công ty

Việc phân tích các báo cáo tài chính là việc phân tích các dữ liệu có trong các
báo cáo tài chính (chủ yếu là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh
doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) nhằm đánh giá:
§ Tính linh hoạt, nghĩa là khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn
của công ty.
§ Khả năng thanh toán, khả năng thực hiện trách nhiệm nợ dài hạn của công ty.
§ Khả năng sinh lời, là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh.

Các hệ số tài chính cơ bản cần phân tích:
I. Hệ số khả năng thanh toán
v Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của công ty trong việc
thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Ta thường xét đến các hệ số sau:
Tổng tài sản lưu động - Hàng tồn kho

1. Hệ số thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn
v Hệ số này nói lên việc công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn
hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển từ tài sản lưu động
khác về tiền mặt.
v Hệ số này > 1 thì được đánh giá là an toàn vì công ty có thể trang trải các
khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu hay doanh số bán.
v Đây là hệ số phản ánh sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa
vụ nợ hiện thời. Hệ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt.

II. Khả năng lợi nhuận
v Việc tính toán khả năng lợi nhuận chỉ ra số lợi nhuận mà một công ty đạt được
sau khi có doanh thu.
v Hệ số này cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá
trình hoạt động của doanh nghiệp.
v Hệ số lợi nhuận cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh
thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động, điều đó rất có lợi cho quá trình hoạt
động của doanh nghiệp.
v Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng của một công ty so với
doanh thu của nó.
v Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản
thân 1 ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng yếu tố đầu vào tốt hơn thì sẽ
có hệ số lợi nhuận cao hơn.
Tiền + Các chứng khoán có thể bán trên thị trường
3. Hệ số thanh toán tức thời = T ng n ng n h n
Tiền + Các chứng khoán khả mại
2. Hệ số thanh toán tức thời = Tổng nợ ngắn hạn
Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi
3. Hệ số thu nhập cổ phiếu phổ thông = Mệnh giá CP Pthông + Thặng dư vốn + Lợi nhuận để lại

Lợi nhuận hoạt động
1. Hệ số lợi nhuận = Doanh thu
Lợi nhuận hoạt động
Lợi nhuận ròng
2. Hệ số lợi nhuận ròng = Doanh thu
v Tỷ lệ này là một trong các biện pháp quan trọng đo lường khả năng tạo lợi
nhuận của công ty năm nay so với các năm khác. Công thức này so sánh số
thu nhập của các cổ đông phổ thông mỗi năm với giá trị của các cổ phiếu công
ty. Hệ số này càng cao càng tốt.
4. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần.
v Hệ số này phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông. Hệ số
này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh các cổ phiếu trên thị
trường.
v Thông thường hệ số này càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho
thấy khả năng sinh lời và tỷ suất lợi nhuận của công ty.
v Chỉ tiêu này được dùng để xác định giá trị của một cổ phiếu theo số liệu trên
sổ sách, một nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này để so sánh với giá
trị thị trường của cổ phiếu, nếu chỉ tiêu này càng thấp hơn so với giá trị thị
trường của cổ phiếu đó thì càng đỡ rủi ro.


III. Đánh giá thu nhập
1. Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
v EPS là thu nhập trên mỗi cổ phiếu của cổ đông phổ thông.
v Chỉ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt vì khi đó khoản thu nhập trên
mỗi cổ phiếu sẽ cao hơn.
2. Hệ số giá / thu nhập
v Hệ số P/E là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong quyết định đầu tư
chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu có ảnh hưởng quyết định
Tổng tài sản - Tổng số nợ - Cổ phiếu ưu đãi
Giá trị sổ sách =
của cổ phiếu phổ thông Số cổ phiếu phổ thông
Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi
EPS =
Số lượng cổ phiếu phổ thông
Giá thị trường
P/E =
Thu nhập của mỗi cổ phiếu
Lợi nhuận ròng
ROE =
Vốn cổ đông
đến giá thị trường của cổ phiếu đó còn hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa
giá thị trường và thu nhập trên mỗi cổ phiếu.
v P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu
lần, hay nhà đầu tư phải trả bao nhiêu đồng cho một đồng thu nhập.
v Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu.
v P/E cao có nghĩa là người đầu tư dự kiến công ty sẽ tăng trưởng nhanh và cổ
tức sẽ tăng cao trong tương lai.
v Hệ số này đo lường tỷ lệ phần trăm lợi nhuận ròng trả cho cổ đông phổ thông
dưới dạng cổ tức. hệ số này càng cao thì cổ phiếu đó càng nhận được sự
quan tâm của các nhà đầu tư, bởi lẽ họ sẽ được trả mức cổ tức cao cho mỗi
cổ phiếu nắm giữ.
v Hệ số này thể hiện tỷ lệ giữa mức cổ tức chi trả so với giá trị thị trường hiện
thời của cổ phiếu, nó phản ánh lợi tức mong đợi của nhà đầu tư khi mua một
loại cổ phiếu tại thời điểm hiện tại.
v Nếu tỷ lệ này càng cao thì càng được các nhà đầu tư quan tâm.
Cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu phổ thông hàng năm
3. Hệ số chi trả cổ tức = Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Cổ tức hàng năm của mỗi cổ phiếu phổ thông
4. Lợi tức hiện thời = Giá thị trường hiện thời

Nguồn Vinase.com

Xin giới thiệu một số chiến thuật kinh doanh cổ phiếu của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ, được đúc kết trong cuốn “Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time” - tạm dịch “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “The 21 Irrefutable Truths of Trading” tạm dịch “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.

Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh
Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.

Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.

Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore
Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.

Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ. Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình. Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.

Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb
Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác. Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch. Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường. Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó. Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.

Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas
Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước. Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao. Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý của công ty.

Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil
Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ. Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:

C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.

Những điểm quan trọng

Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:
- Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ” trước.
- Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.
- Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.
- Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường.
O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.
- Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.
- Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.
- Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.
- Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.
- Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.
- Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.

(vinashares.com)

OTC không tự do

|

Cùng với sự đi lên của thị trường chứng khoán niêm yết, thị trường giao dịch cổ phiếu phi tập trung - OTC cũng phát triển rất nhanh.

Thị trường OTC viết tắt theo cụm từ tiếng Anh là “Over the Counter”, để chỉ việc giao dịch cổ phiếu ngoài sàn giao dịch chứng khoán, hay còn gọi là thị trường giao dịch cổ phiếu phi tập trung. Cụm từ viết tắt OTC thể hiện tính thông lệ quốc tế mà Việt Nam đang trong giai đoạn đầu phát triển thị trường chứng khoán, thị trường giao dịch cổ phiếu dứt khoát không nằm ngoài những giao dịch và tính toán đó.

Song hiện nay đang có những quan điểm và nhận thức khác nhau về vấn đề này, vậy thực chất của nó ra sao?

Trước hết chưa thể gọi thị trường OTC là thị trường chứng khoán tự do, bởi vì các cổ phiếu được giao dịch chưa đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, chưa bị điều chỉnh bởi pháp luật về giao dịch chứng khoán. Do đó chỉ có thể gọi là thị trường giao dịch cổ phiếu mà thôi.

Song bản thân giao dịch trên thị trường này hiện nay ở nước ta không chỉ có cổ phiếu mà có cả trái phiếu có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu. Ước tính hiện nay trên thị trường đang có khoảng 6 loại trái phiếu dạng này, đó là trái phiếu của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI), các ngân hàng thương mại: Á Châu, Quân đội, Cổ phần Sài Gòn, Ngoại thương Việt Nam, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam...

Thứ hai là, không thể gọi thị trường OTC là thị trường tự do. Giao dịch cổ phiếu trên thị trường OTC tuy không chịu sự quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán và pháp luật chuyên ngành về chứng khoán, nhưng chịu sự quản lý Nhà nước về chuyên ngành kinh doanh, điều chỉnh pháp luật về giao dịch dân sự và hình sự, pháp luật chuyên ngành kinh doanh, Luật Doanh nghiệp, đặc biệt là các quy định về hội đồng quản trị và ban kiểm soát công ty cổ phần, quy định về cổ phần; các quy định về cổ phiếu, vốn điều lệ, kiểm toán và các quy định khác có liên quan.

Do đó những người mua bán cổ phiếu OTC đều bám theo các quy định pháp luật nói trên để thực hiện các giao dịch và tìm kiếm cơ hội đầu tư sao cho phòng ngừa tới mức thấp nhất rủi ro.

Văn phòng hội đồng quản trị của các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp cổ phần khác nói chung, hầu như đều ban hành văn bản mẫu về hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu, đơn xin chuyển nhượng... Những quy định và điều khoản ràng buộc trong đó đều bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, tức là cả bên mua và bên bán, quyền lợi về chia cổ tức, mua cổ phiếu tăng vốn... dựa trên điều lệ của công ty cổ phần và các quy định pháp luật khác có liên quan. Nếu như các hành vi lừa đảo thì cũng chịu các chế tài của luật hình sự.

Các tranh chấp về dân sự cũng được giải quyết theo Luật Dân sự. Thanh tra chuyên ngành: ngân hàng, tài chính... cũng có nội dung thanh tra và chức năng thanh tra giải quyết những vấn đề liên quan cổ đông, cổ phần, cổ phiếu, của ngân hàng thương mại cổ phần, công ty chứng khoán cổ phần và công ty bảo hiểm cổ phần... cổ phiếu của các công ty chưa niêm yết giao dịch OTC cũng hầu hết được ghi rõ các giao dịch chuyển nhượng chỉ có giá trị khi làm thủ tục qua văn phòng hội đồng quản trị của doanh nghiệp đó.

Thủ tục chuyển nhượng cũng hết sức chặt chẽ với việc xuất trình sổ hộ khẩu, chứng minh thư, chữ ký gốc... Các ngân hàng thương mại cổ phần bắt buộc phải thực hiện kiểm toán độc lập hay kiểm toán quốc tế hàng năm và phải công bố công khai thực trạng tài chính trước đại hội cổ đông, trước công luận.

Bởi vậy trong thực tiễn ở nước ta, hơn 2 năm qua, thị trường OTC cũng phát triển rất nhanh, giao dịch sôi động, với hàng trăm loại cổ phiếu được giao dịch OTC, tổng số vốn hoá cũng lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, nhưng chưa gây ra vụ kiện tụng hay tranh chấp nào ầm ĩ trong xã hội, trên thị trường, cũng chưa thấy toà dân sự, hay mức độ cao hơn phải xử lý các trường hợp tranh chấp giao dịch trên thị trường OTC.

Cũng nắm bắt nhu cầu giao dịch trên nên đã hình thành tự phát nơi đăng ký giao dịch cổ phiếu OTC trên trang web của các công ty kinh doanh chứng khoán, như: ANS, ABCS, BVSC... hoặc các trang chuyên về giao dịch OTC, như: SanOTC, OTC24h...

Trong đó, nếu như trong mục rao vặt OTC của địa chỉ BVSC, các thông tin giao dịch mua bán cổ phiếu chỉ được duyệt và đưa trên mạng 1 lần trong ngày thì địa chỉ SanOTC được xét duyệt và đăng tin liên tục trong ngày. Đây được coi là hai địa chỉ có tần suất giao dịch sôi động nhất và hiệu quả nhất trong việc khớp nối thông tin giữa cung và cầu về mua bán cổ phiếu OTC hiện nay.

Các địa chỉ trang web nói trên không chỉ đăng thông tin giữa nhu cầu mua và bán mà còn thông tin về các công ty có cổ phiếu giao dịch OTC, thông tin khác liên quan đến phân tích thị trường OTC.

(Theo Thời Báo Kinh Tế VN)

Các bạn có thể tham khảo mã chứng khóan, tên công ty, vốn điều lệ, khối lượng cổ phiếu lưu hành, ngày niêm yết ở đây.

HoSE: http://www.hsx.vn/hsx/Modules/Danhsach/Chungkhoan.aspx
HaSTC: http://www.hastc.org.vn/danhsach_TCDKGD.asp?actType=1&menuup=402000&TypeGrp=1&menuid=114120&menulink=114120&menupage=danhsach_TCDKGD.asp&stocktype=2

Ý nghĩa của các chữ số màu xanh, vàng đỏ:

+ Màu xanh: Biểu tượng cho sự thay đổi tăng giá

+ Màu đỏ: Biểu tượng cho sự thay đổi giảm giá

+ Màu vàng: Biểu tượng cho sự đứng giá (không thay đổi)

Các thông tin cơ bản được thể hiện trong bảng điện tử:

- Cột mã chứng khoán: Là mã hiệu (tên viết tắt) của chứng khoán được đăng ký và niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK).

- Cột giá tham chiếu: Là giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó và là cơ sở để xác định giá trần, giá sàn của ngày giao dịch hiện tại.

- Cột giá trần: Là mức giá cao nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua, bán chứng khoán.

+ Trên TTGDCK TP HCM: Giá trần = Giá tham chiếu + 5% *Giá tham chiếu

+ Trên TTGDCK Hà Nội: Giá trần = Giá tham chiếu + 10% * Giá tham chiếu

-Cột giá sàn: Là mức giá thấp nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua, bán CK.

+ Trên TTGDCK TP HCM: Giá sàn = Giá tham chiếu - 5% * Giá tham chiếu

+ Trên TTGDCK Hà Nội: Giá sàn = Giá tham chiếu - 10% * Giá tham chiếu

- Cột giá mở cửa: Là mức giá thực hiện đầu tiên trong ngày giao dịch.

- Cột giá đóng cửa: Là mức giá thực hiện cuối cùng trong ngày giao dịch.

- Cột giá khớp lệnh: Là mức giá tại đó khối lượng CK được giao dịch nhiều nhất.

- Cột khối lượng khớp lệnh: Là khối lượng CK được thực hiện tại mức giá khớp lệnh.

- Cột chênh lệch (+/-): Là thay đổi của mức giá hiện tại so với giá tham chiếu trong ngày giao dịch (= giá hiện tại – giá tham chiếu).

- Cột mua: gồm 6 cột biểu thị cho 3 mức giá đặt mua cao nhất tương ứng với các khối lượng đặt mua tại các mức giá cao nhất đó. Khi kết thúc phiên giao dịch Bảng điện tử sẽ hiện thị các thông tin về khối lượng CK tương ứng với các mức giá chưa được khớp lệnh (dư mua).

- Cột bán: gồm 6 cột biểu thị cho 3 mức giá đặt bán thấp nhất tương ứng với các khối lượng đặt bán tại các mức giá thấp nhất đó. Khi kết thúc phiên giao dịch Bảng điện tử sẽ hiện thị các thông tin về khối lượng CK tương ứng với các mức giá chưa được khớp lệnh (dư bán).

Như chúng ta đã biết phương pháp định giá cổ phần theo lý thuyết đó là sử dụng nguyên tắc chiết khấu dòng tiền, ở đây là chiết khấu cổ tức. Giá trị của một cổ phần được định nghĩa là:

P = ∑Cổ tức / (1+r)^n

Đây là công thức căn bản trong việc định giá cổ phần.
Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng sử dụng công thức trên. Một số trường hợp chúng ta có thể sử dụng công thức đơn giản hơn đó là dựa vào P/E để tính giá cổ phần. Chẳng hạn nếu P/E của công ty ước tính khoảng 10 thì với EPS = 5, điều đó có nghĩa rằng giá cổ phần công ty sẽ là 50.
Hoặc để nhận định về tốc độ tăng trưởng của công ty, người ta có thể sử dụng thêm công thức:

P = EPS/r + PVGO với PVGO là hiện giá cơ hội tăng trưởng (giá trị đem lại từ những cơ hội đầu tư hiện tại của công ty)

Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây, chúng ta sẽ sử dụng các công thức định giá này trong trường hợp nào, khi nào thì nên sử dụng công thức này mà không sử dụng công thức kia??? Và theo bạn ở Việt Nam người ta dùng công thức nào ?
Mong các bạn đóng góp ý kiến !!! (Tác giả: Nam)

Thảo luận

O Việt Nam theo mình nghĩ công thức của bạn đưa ra khó có khả năng áp dụng được. Vì sao, hãy trả lời các câu hỏi:

1. Bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp ở Việt Nam có vận dụng dividend policy cho shareholders? Trong trường hợp doanh nghiệp không trả cổ tức thì sao? Ở trên thế giới Microsoft không trả dividend nhưng vẫn giá cổ phiếu lại rất cao vì nhà đầu tư họ không kỳ vọng vào dividend mà họ quan tâm đến capital gain (chênh lệch giá cổ phiếu)

2. Công thức này liệu có thực tế không? r theo mình nghĩ đó là cost of equity, làm sao tính được r ở một doanh nghiệp ở Việt Nam. Nếu muốn tính được r, các bạn phải có thông tin về: risk free rate, return on market, return on stock, và beta. Tính beta trong một thị trường chứng khoán chưa phát triển như Việt Nam quả là không khả thi.

3. Bạn tính beta bằng cách nào? Nếu dùng phương pháp regression (hồi quy), xin thưa rằng không có dữ liệu quá khứ bởi vì chẳng thể nào tìm được giá cổ phiếu hàng ngày của 1 công ty và daily VNI-index, có website nào để download giá lịch sử không??? Nếu bạn dùng phương pháp bottom-up để tính Beta, mình nghĩ là không ổn bởi vì bạn không có thông tin về các công ty đối thủ cạnh tranh và tính avarage unleverage beta.

4. Làm sao xác định được tốc độ tăng trưởng của cổ tức doanh nghiệp (g). Hình như mô hình mà bạn đưa ra không có g. Theo mình thì g = ROE*(1-payout ratio). Mà payout ratio = DPS/EPS. Thật là khó khi tính g ở các công ty ở Việt Nam.
5. Giả sử như bạn tính được g và r, theo bạn thì tốc độ tăng trưởng của dividend sẽ kéo dài trong bao lâu. Thật là khó phân tích trong môi trường thiếu thông tin như ở Việt Nam. Bạn là nhà phân tích, bạn có biết chiến lược kinh doanh của công ty hay không? Công ty có bao nhiêu projects? Project sinh lợi ra sao, đóng góp như thế nào vào tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp? Project kéo dài bao lâu....

5. Doanh nghiệp đang ở điểm nào trong chu kỳ kinh doanh (đang hình thành, đang tăng trưởng, hay suy thóai)...

6. Thông tin trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam có đáng tin cậy không?Đó là một vấn đề về Information asymmetry dẫn đến Agency problem (các nhà quản lý nắm nhiều thông tin hơn là các cổ đông), cho nên sự phân tích của cổ đông thường phiến diện.

Tóm lai, mô hình mà bạn đưa ra chỉ là một mô hình rất căn bản, hình như đó là Gordan Growth Model, khó có thể đưa ra thông tin đáng tin cậy về giá cổ phiếu ở Việt Nam. Ở các nước phát triển, các nhà phân tích thường dùng nhiều mô hình kết hợp chứ không đơn thuần chỉ dùng 1 mô hình, họ thường phân tích về industry, về risk, về accounting, rất nhiều thứ. Những mô hình thông dụng mà các nhà phân tích ở Anh, Mỹ, Úc thường dùng mà mình đã từng được học và thử nghiệm là:

1. DDM (2-stage, 3-stage): Phân tích chiết khấu cổ tức

2. FCFE (Free cash flow to equity)

3. Relative valuation (P/E): so sánh chỉ số (P/E) với các công ty trên thị trường. Sau đó dùng hàm hồi quy (regression) để phân tích

Thật ra mục đích của việc định giá cổ phằn là để xác định miss-priced security (xem giá cổ phiếu thấp hơn hay cao hơn số mà bạn tính, từ đó đưa ra quyết định mua, giữ, hay bán). Nếu bạn nào thích hãy cho mình email, mình sẽ gửi một bài viết của mình về một công ty ở nước ngoài mà mình đã từng phân tích (đây là một công ty thuộc oil and gas industry).

Bài 25: Các hệ số về khả năng sinh lời (tiếp theo)

Monday, September 22, 2008 |


2. Hệ số lợi nhuận hoạt động.
Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết Ban quản lý của một công ty đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của công ty.

...................................EBIT
Mức lãi hoạt động = --------------------
................................Doanh thu

Tử số của hệ số này là thu nhập trước thuế và lãi hay chính là thu nhập tính được sau khi lấy doanh thu trừ trị giá hàng bán đã tính theo giá mua và các chi phí hoạt động (EBIT).
Ví dụ: Hệ số lợi nhuận hoạt động
Nếu EBIT lên tới 200.000 USD trong khi doanh thu là 1.000.000 USD thì mức lãi hoạt động là:

.........................................$200.000
Hệ số lợi nhuận hoạt động = -------------------
.........................................$1.000.000

Hệ số này là một thước đo đơn giản nhằm xác định đoàn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem công ty hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.
3.Hệ số lợi nhuận ròng
Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số từ mọi giai đoạn kinh doanh. Nói cách khác đây, là tỷ số so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán.

....................Lợi nhuận ròng
Mức lãi ròng= ------------------
....................Doanh số

Ví dụ: hệ số lợi nhuận ròng
Nếu lợi nhuận sau thuế của một công ty là 100.000 USD và doanh thu của nó là 1.000.000 USD.

....................................100.000 USD
Hệ số lợi nhuận ròng =---------------------- = 10%
..................................1.000.000 USD

Một số công ty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%, và một số khác có chỉ đạt khoảng từ 3% đến 5%. Hệ số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau. Thông thường, các công ty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các công ty này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn. Xét từ góc độ nhà đầu tư, một công ty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi sẽ có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận ròng trung bình của ngành và nếu có thể, có mức lợi nhuận liên tục tăng. Ngoài ra, một công ty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả- ở bất kỳ doanh số nào thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao

Các nhà đầu tư, các cổ đông và các nhà quản lý tài chính đặc biệt chú ý tới khả năng sinh lãi của các công ty. Việc phân tích lợi nhuận có thể bắt đầu bằng việc nghiên cứu cách thức một công ty sử dụng cơ cấu vốn. Các nhà quản lý giỏi sử dụng có hiệu quả tài sản của mình. Thông qua việc tăng hiệu quả sản xuất, các công ty có thể giảm hoặc kiểm soát được các chi phí. Tỷ lệ lợi nhuận do bất kỳ một công ty nào đạt được là quan trọng nếu các nhà quản lý của công ty đó mong muốn thu hút vốn và thực hiện việc tài trợ thành công cho sự phát triển của công ty.

Nếu tỷ lệ lợi nhận của một công ty tụt xuống dưới mức có thể chấp nhận được, thì P/E (giá trên thu nhập) và giá trị các cổ phiếu của công ty giảm xuống - điều đó giải thích tại sao việc đánh giá khả năng sinh lời lại đặc biệt quan trọng đối với một công ty.

1. Hệ số tổng lợi nhuận.

Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng nguyên liệu và lao động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một công ty.

...............................Doanh số - Trị giá hàng bán tính theo giá mua
Hệ số tổng lợi nhuận = --------------------------------------------
...............................................Doanh số bán

Ví dụ: Hệ số tổng lợi nhuận
Nếu một công ty có doanh số bán là 1.000.000 USD và giá trị hàng bán tính theo giá mua lên tới 600.000 USD, thì hệ số tổng lợi nhuận của công ty sẽ là:
......................................$1.000.000 - $600.000
Hệ số tổng lợi nhuận = -------------------------------
............................................$1.000.000

Khi chi phí lao động và chi phí nguyên vật liệu tăng nhanh, hệ số tổng lợi nhuận chắc chắn sẽ giảm xuống, trừ khi công ty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng của mình dưới hình thức nâng giá bán sản phẩm. Một cách để tìm xem các chi phí này có quá cao không là so sánh hệ số tổng lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty tương đồng. Nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần phải thực hiện một biện pháp nào đó để có được sự kiểm soát tốt hơn đối với chi phí lao động và nguyên liệu


1.Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ.
Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng. Để đạt được mục đích này, bạn có thể sử dụng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. hệ số này đánh giá khả năng sử dụng thu nhập hoạt động (thu nhập trước thuế và lãi - EBIT) để trả lãi của một công ty. Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào. Rõ ràng, hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn.

..........................................................EBIT
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ = -----------------------------
............................................Chi phí trả lãi hàng năm

Ví dụ: Nếu EBIT là 8.000.000 USD và chi phí tiền nợ lãi hàng năm là 3.000.000 USD:
..................................................8.000.000
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ = ------------------- = 2,67
..................................................3.000.000
Nói cách khác, thu nhập cao gấp 2,7 lần chi phí trả lãi.
Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty này được hạn chế bởi thực tế EBIT không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi. Các công ty cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi. Những gì mà một công ty cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình.
Chỉ riêng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ thì chưa đủ để đánh giá một công ty vì hệ số này chưa đề cập đến các khoản thanh toán cố định khác như tiền nợ gốc, chi phí tiền thuê và chi phí cổ tức ưu đãi.

2.Hệ số trang trải chung.
Để giải quyết vẫn đề có liên quan đến hệ số thu nhập trả lãi định kỳ, có thể tính toán hệ số trang trải chung:
...................................Các nguồn thu tiền mặt
Hệ số trang trải chung = -----------------------------
........................................tất cả các chi phí

Tất cả chi phí trong mẫu số của hệ số này là cố định và đều phải được cân nhắc. rõ ràng, một công ty và các nhà đầu tư của công ty muốn có hệ số trang trải chung cao nhất, nhưng điều này phụ thuộc một phần vào khả năng sinh lãi của công ty.

Khi các hệ số nợ lớn quá mức, công ty có thể nhận thấy chi phí vốn của mình tăng lên. Giá trị các cổ phiếu của công ty cũng có thể giảm xuống tương ứng với mức độ rủi ro của công ty tăng lên. Do đó, các nhà quản lý tài chính phải thận trọng để tránh tình trạng nợ trầm trọng trong cơ cấu vốn của mình. Các nguồn dữ liệu quan trọng của ngành có thể tìm thấy trong các báo cáo tài chính hàng quý từ uỷ ban Chứng khoán về các ngành sản xuất, bán lẻ, khai thác mỏ. Bạn cũng có thể tham chiếu các báo cáo của các tổ chức định mức tín nhiệm để có các số liệu tổng hợp tương tự.

Bài 22: Hệ số hàng lưu kho

|

Tỷ lệ doanh số hàng bán trên hàng lưu kho là quan trọng đối với công ty bởi vì hàng lưu kho là loại tài sản ít lưu hoạt nhất trong các tài sản lưu động. Vì công ty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên công ty sẽ được lợi khi bán hàng càng nhanh càng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt .cho các mục đích sử dụng khác.
................................Gía trị hàng đã bán tính theo giá mua
Hệ số hàng lưu kho= -----------------------------------------
...............................Giá trị hàng lưu kho trung bình
Ví dụ: Hệ số hàng lưu kho
Nếu giá trị hàng hoá bán hàng năm của một công ty là $ 3.000.000 (tính theo giá mua) và giá trị hàng lưu kho trung bình là $ 300.000, thì tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho của công ty này sẽ là 10 lần.
................................$3.000.000
Hệ số hàng lưu kho = -------------- = 10 lần
................................$300.000
Số liệu này phải được so sánh với hệ số trung bình của ngành trước khi đưa ra bất kì một bình luận nào, vì các hệ số trung bình của từng ngành khác nhau rất lớn.. Các công ty bán hàng hoá dễ hỏng, như rau tươi thường có tỉ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho rất cao, trong khi đó con số này ở một công ty sản xuất đèn ngủ sẽ thấp hơn nhiều. Tuy nhiên nếu hệ số của một công ty thấp hơn hệ số trung bình của ngành, thì nhà quản lý cần kiểm tra xem tại sao hàng lưu kho lại luân chuyển chậm quá như vậy.

Cần thận trọng khi xem xét hàng đã bán trên hàng lưu kho. Tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho cao không phải bao giờ cũng có nghĩa là việc bán hàng của công ty có hiệu quả. Hệ số hàng đã bán trên hàng lưu kho có thể rất cao khi công ty liên tục hết hàng dự trữ vì công ty không sản xuất đủ hoặc không mua đủ hàng hoá. Trong trường hợp này, hệ số cao thực tế lại cho thấy việc lập kế hoạch hay việc quản lí hàng dự trữ tồi. Do đó, trừ khi đã nghiên cứu kĩ chính sách về hàng lưu kho của một công ty, việc sử dụng chỉ riêng hệ số này chưa thể cung cấp đủ thông tin về khả năng huy động tiền mặt của công ty

Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả. Để tìm ra thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải thu, ta chia các khoản phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm
Các khoản phải trả
Thời hạn thanh toán trung bình = ------------------------
Tiền mua hàng chịu hàng năm / 360 ngày

Tuy nhiên, tiền mua hàng chịu hàng năm không được đề cập trong một báo cáo tài chính. Để có được số liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá được mua chịu.

Ví dụ : tính toán thời hạn thanh toán trung bình.

Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của công ty là 275.000 USD. Nếu giá mua hàng là 3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua chịu thì thời hạn thanh toán trung bình là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng năm sẽ là 2.400.000 USD (3.000.000 x 0.80). Bây giờ, thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả có thể được tính như sau:
$275.000
Thời hạn thanh toán trung bình = --------------- = 41.3 ngày
0.80 x $3.000.000 /360ngày

Thời hạn thanh toán trung bình (đối với các khoản phải trả) của công ty là 41.3 ngày. Bất kỳ thời hạn nào ngắn hơn có nghĩa là người bán dành cho công ty một khoản chiết khấu hoặc người bán cho rằng công ty đang trong tình trạng rủi ro cao nên đã đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về thời hạn thanh toán nợ. Bất kỳ thời hạn nào dài hơn cũng có nghĩa là công ty đã nhận được các điều khoản tín dụng ưu đãi, hay công ty là một “người trả chậm”, tức là công ty đang sử dụng những người cung cấp nguyên liệu như một nguồn tài trợ.

Người bán, nói chung bao giờ cũng muốn nhận được tiền càng sớm càng tốt, thường tính toán hệ số này nhằm biết được bao lâu thì họ có thể thu hồi tiền của mình từ công ty. Do việc thanh toán chậm thường có lợi cho công ty, nên nhà quản lý - người kiểm soát việc thanh toán có nhiệm vụ phải làm cân bằng hai thái cực lợi ích giữa nhà cung cấp và công ty.

Nếu thời hạn thanh toán trung bình của ngành vượt quá hệ số của công ty, thì nhà quản lý có thể tìm ra lý do tại sao việc mua chịu của công ty lại bị hạn chế và phải làm gì để có được thời hạn mua chịu dài hơn từ những nhà cung cấp.

Các hệ số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Rõ ràng là một công ty có khả năng chuyển đổi hàng dự trữ và các khoản phải thu thành tiền mặt nhanh hơn sẽ có tốc độ huy động tiền mặt nhanh hơn. Các hệ số sau đây và việc tính toán được thiết lập dựa trên giả định rằng một năm có 360 ngày.
a, Hệ số thu hồi nợ trung bình:
Việc tìm ra kỳ thu hồi nợ bán hàng trung bình của một công ty sẽ cho bạn biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.

Các khoản phải thu
Kỳ thu hồi nợ trung bình = -------------------
Doanh số bán chịu hàng năm/ 360 ngày

Ví dụ:
Nếu bảng cân đối kế toán của một công ty cho biết số liệu của các khoản phải thu là $700.000 và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu là $5.500.000, thì:

$700.000
Kỳ thu hồi nợ trung bình = --------------------- = 45.8 ngày.
$5.500.000 / 360 ngày

Cũng như các hệ số khác, kỳ thu hồi nợ trung bình phải được xem xét trong mối liên hệ với các thông tin khác. Nếu chính sách của công ty là bán chịu cho khách hàng trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45.8 ngày cho thấy là công ty gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn và cần xem xét lại chính sách bán chịu của mình. Ngược lại, nếu chính sách thông thường của công ty là ấn định thời hạn thu hồi nợ là 55 ngày, thì thời hạn trung bình 45.8 ngày cho thấy chính sách thu hồi nợ của công ty là có hiệu quả.

Cần chú ý là hệ số thu hồi nợ trung bình chỉ là một số trung bình và có thể dẫn đến sự hiểu nhầm. Ví dụ, xem xét công ty A và b, có cùng giá trị các khoản phải thu nhưng có thời biểu thu hồi nợ khác nhau.

% nợ thu ---------------- Cty A---------- Cty B
hồi được trong 10 ngày ----10 ------------- 60

% nợ thu
hồi được trong 30 ngày----30 --------------30

% nợ thu
hồi được trong 60 ngày----60 --------------10

Bảng trên cho thấy tỷ lệ các khoản phải thu của hai công ty thu hồi được trong mỗi thời hạn. Rõ ràng, công ty B ở vào vị trí tốt hơn vì 60% các khoản phải thu của công ty này đã được thu trong vòng 10 ngày, so với mức chỉ là 10% của công ty A. Nếu công ty A và công ty B có chung một số lượng khách hàng và cùng một lượng các khoản phải thu thì thời hạn thu hồi nợ trung bình của hai công ty này sẽ giống nhau. Nhưng việc phần bổ các kỳ thu hồi nợ lại là yếu tố không được đề cập đến trong hệ số, rõ ràng điều này đã khiến cho công ty B có lợi thế hơn nếu chỉ nhìn trên bảng hệ số thu hồi nợ trung bình